NGỤY BIỆN CỜ BẠC TRONG CHỨNG KHOÁN

Nhiều người vẫn nói vui cụm từ “chơi chứng khoán”, mang tính chất của thị trường thành một bộ môn cờ bạc được hợp pháp tại Việt Nam. Với những bộ môn như “Future, Vay Margin, Phái sinh CFD…,”, những con bạc khi cháy tài khoản thường rất hay biện minh. Đó là cách họ ngụy biện cờ bạc trong chứng khoán

Khái niệm

Ngụy biện con bạc, hay ngụy biện của tay cá cược, ngụy biện Monte Carlo hoặc ngụy biện về thời cơ chín muồi, là niềm tin sai lầm rằng nếu một biến cố cụ thể xảy ra thường xuyên hơn bình thường trong quá khứ thì nó sẽ ít có khả năng xảy ra hơn trong tương lai (hoặc ngược lại), dù thực tế là xác suất các biến cố đó xảy ra không phụ thuộc vào quá khứ. Những biến cố có tính chất độc lập về lịch sử như vậy được gọi là biến cố độc lập về mặt thống kê.

Nguyên nhân

Khi chúng ta bắt đầu vào một việc gì đó, chúng ta thường sẽ có nhiều viễn cảnh khác nhau diễn ra. Yếu tố tham lam của con người đều mong muốn một kết quả đẹp nhất mà giới hạn năng lực nghĩ của mình cho phép. Đặc biệt là trong cờ bạc, việc mong muốn đạt được một mức giải thưởng kếch xù trong các ván bài đều là điều tiên quyết của các con nghiện cờ bạc. 

Trong ngụy biện cờ bạc, một cá nhân có tin tưởng sai lầm rằng sự khởi phát của một sự kiện ngẫu nhiên thì khó diễn ra sau một hay một loạt sự kiện. Dạng suy nghĩ này là không đúng bởi vì những sự kiện trong quá khứ không thay đổi xác suất về sự kiện nhất định nào đó sẽ diễn ra ở tương lai. 

Ví dụ

Các dân cờ bạc đều sẽ có những góc nhìn như sau: 

– Nếu quay đồng xu 20 lần thì chắc chắn sẽ có xác suất ăn nếu đặt cược lớn theo nguyên tắc “truyền thuyết”: “Thua nhân đôi, thắng giữ nguyên” luân phiên vào mặt sấp và ngửa, bởi vì họ tin rằng tỉ lệ sấp ngửa là 50%. 

Đây là một ví dụ cơ bản nhất về ngụy biện tâm lý. Chúng ta hãy suy xét cụ thể như sau, giả sử bạn bỏ 1 đô la để cá cược tung đồng xu úp hoặc ngửa. 

Trường hợp: Bạn sẽ có 50% hoặc ăn 1 đồng xu hoặc mất 1 đồng xu. 

Trong trường hợp bạn thua ván đầu tiên, tâm lý khó chịu và ý định trả thù sẽ khiến người chơi có xu hướng đánh nhân đôi số tiền cược nhằm gỡ gạc lại. Theo đó: Nếu vốn ván 2 là 2 đô và mình thắng ván 2, mình sẽ ăn được 2 đô. Tổng số tiền lời sau 2 ván là 1 đô. (Điều này có thể coi là một nghịch lý, nếu xét tổng thể và chi tiết: Vốn sau 2 ván: 3 đô, tiền sau 2 ván: 5 đô, ăn chênh lệch vẫn là 2 đô). 

Vẫn ván 2, nếu tiếp tục thua lỗ, họ vẫn mất trắng tổng vốn là 3 đô. Ở ván 3, họ sẽ tiếp tục cược nhân đôi so với ván 2 là 4 đô nhằm gỡ gạc lại toàn bộ những gì đã mất. Vòng lặp sẽ được tiếp tục như vậy. 

Chúng ta đều có thể thấy được cơ hội thắng thua luôn là 50%. Suy nghĩ của người chơi luôn đa số là: Đánh liên tục nếu cứ cược zigzag (úp – ngửa luận phiên), thì cỡ nào mình vẫn ăn 1 đồng là tối thiểu. 

– Tích lũy nhân phẩm khi ghép đồ trong game hoặc quay Gacha. 

Chúng ta nhớ ngày xưa khi chơi Gunny, việc nạp cả triệu đồng để mua vật phẩm nâng cấp trong game nhằm nâng cấp một vũ khí trang bị nào đó lên level với tỉ lệ thành công chưa tới 10%. Chắc chắn mọi người đã không làm lạ gì với quả click vào món đồ 3 – 4 lần, tắt máy, bật lại, reset các kiểu như phương thức cầu mây thành công. 

Thật ra, các tựa game luôn là phương thức kinh doanh hiệu quả của các nhà lập trình game. Theo đó, họ tạo ra những dòng code “tà thuật” nhằm kiểm soát (có thể hoàn toàn nắm được hoặc nắm 1 phần để miêu tả độ “khách quan” của game được tung trên thị trường. Do đó, việc ghép đồ hoặc quay Gacha có trúng thưởng hoặc “nổ hũ” hay không, không phụ thuộc vào những phương thức “gia truyền” như vậy. 

Và cảm xúc, tương tự với trường hợp đầu tiên, nếu mình thành công thì mình thăng hoa, nếu mình thất bại thì mình cay cú và xả tiền để đạt cho bằng được 

– Trong chứng khoán, nhà đầu tư có xu hướng Trung bình giá (DCA) liên tục, đó được gọi là dân cờ bạc trong chứng khoán. 

– Các nhà đầu tư theo trường phái “gồng lỗ đến chết” vì niềm tin rằng giá cổ phiếu không thể về con số 0. 

Nhà đầu tư, nếu họ không sử dụng đòn bẩy tài chính (margin) để đầu tư, họ sẽ luôn quan niệm rằng: Giá cổ phiếu không thể về một con số 0 tròn trĩnh được. Điều này lại càng đúng với những mã ngành ngân hàng, khi quy trình mở một ngân hàng được đi vào hoạt động luôn có sự ràng buộc cứng từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hay cũng như các khu Bất động sản Khu công nghiệp vì đất thuộc quyền sở hữu Nhà nước, và hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất luôn được diễn ra đều đặn và thường xuyên. Do đó, với những nhà đầu tư còn thiếu kinh nghiệm, họ rất dễ đầu tư cổ phiếu ở giá đỉnh nơi mà các nhà đầu tư khác đã có được mức tỉ suất sinh lời đáng kể. Hậu quả, những nhà đầu tư non trẻ này luôn trong trạng thái gồng lỗ mạnh. Những ngày tháng sau đó, có thể là khoảng thời gian đau khổ vì gồng lỗ nhất.

Tác hại

Trước hết, việc ngụy biện cờ bạc trong chứng khoán là một quan niệm sai lầm. Về cơ bản, nó đã phản ánh sự thiếu nghiêm túc trong chứng khoán. Bản thân chứng khoán là đầu tư, kỳ vọng vào giá trị doanh nghiệp vào tạo ra dòng tiền lưu chuyển trong thị trường. Và việc đầu tư này yêu cầu những phân tích kỹ lưỡng trên nhiều chỉ số và nhiều tin tức vi mô và vĩ mô khác nhau. Các nhà đầu tư “con bạc” này đã hoàn toàn bỏ qua điều đó, đầu tư vào một mã trong sự “mù” hoàn toàn về thông tin. 

Có thể trong tùy giai đoạn, khi các cổ phiếu đều “thăng hoa” và phát triển mạnh, các con bạc sẽ cảm giác vui sướng như vừa chiến thắng một ván bài quan trọng. Hệ quả, họ lại tiếp tục đầu tư, hoặc xoay chuyển nguồn tiền sang những mã khác nhằm thử vận may vào một phép màu mới. Nhưng nếu như, thị trường khó khăn, mã cổ phiếu họ quan tâm, có thể hóa “đỏ” và mất dần, mất mòn số tiền mình đã đầu tư thì sao? 

Chắc chắn, họ sẽ đôn tiền lên một cách không kiểm soát, sử dụng đòn bẩy tài chính để ép thúc cho mã cổ phiếu tăng giá trong mòn mỏi, dẫn đến thất thoát tài sản trong dài hạn. Còn những sự việc bên lề, trộm cắp, vi phạm pháp luật…, là điều không thể tránh khỏi. Từ cô sinh viên 300 triệu vào Bitcoin, từ anh quản lý bán siêu xe 35 tỷ của khách vì thua lỗ… có lẽ là quá đủ để mọi người thấy được toàn cảnh sự việc, hậu quả không kiểm soát được của nó. 

Giải pháp

Cách tốt nhất để né việc trở thành con nghiện cờ bạc chứng khoán, đơn giản nhất là đừng ký quỹ, đừng vay vốn để đầu tư. Ngoài ra, nhà đầu tư nên học các phân tích kỹ thuật và cơ bản để có góc nhìn khách quan vào thị trường, vào các mã cổ phiếu. 

Trong khi đầu tư, sẽ có rất nhiều người cùng thì thầm nhau về một vài mã cổ phiếu để ồ ạt mua. Nhà đầu tư khôn ngoan nên hạn chế nghe theo và phải có chứng kiến đúng đắn của bản thân. Mọi sự thì thầm đều là cơ hội để đội lái chứng khoán “lùa gà” thị trường và vét sạch túi của các nhà đầu tư non nớt, các con nghiện cờ bạc chứng khoán. 

 “Mây Ichimoku” dựa trên việc sử dụng nhiều đường chỉ báo ở trên biểu đồ nến để tăng độ chính xác cho những dự báo về giá cả của cổ phiếu ở thời điểm hiện tại và trong tương lai, từ đó có thể lựa chọn điểm mua và bán sao cho phù hợp. Ichimoku là một công cụ mạnh, có thể sử dụng một cách riêng biệt mà không cần kết hợp với một phương pháp phân tích kỹ thuật nào khác.

1. Khái niệm

Khái niệm Ichimoku

Cái tên Ichimoku Kinko Hyo, theo tiếng Nhật có ý nghĩa như sau:

Vậy chúng ta có thể hiểu ý nghĩa tổng thể của cái tên này là: “Sự cân bằng của biểu đồ trong nháy mắt” hay “Một cái nhìn thoáng qua về sự cân bằng của biểu đồ” 

Ichimoku Kinko Hyo (hay chúng ta cũng có thể gọi một cách ngắn gọn là Ichimoku hay Ichimoku Cloud) là một chỉ báo kỹ thuật dựa trên việc sử dụng nhiều đường chỉ báo ở trên biểu đồ nến để tăng độ chính xác cho những dự báo về giá cả của cổ phiếu ở thời điểm hiện tại và trong tương lai, từ đó có thể lựa chọn điểm mua và bán sao cho phù hợp.

2. Nguồn gốc

Hệ thống Ichimoku do Goichi Hosoda, một nhà báo người nhật sáng tạo ra vào những năm 1930. Đây một quá trình nghiên cứu vô cùng kỳ công và được sự hỗ trợ của rất nhiều người: Hosoda đã dành đến 4-5 năm trời cùng với sự tính toán của hơn 2000 sinh viên chỉ để cho ra một chỉ báo toàn tập với những con số cơ bản và cực kỳ quan trọng là 9; 17; 26 mà chúng ta vẫn thường dùng trong chỉ báo Ichimoku ngày nay. Nhưng mãi đến những năm 1960 thì phương pháp này mới được công bố lên báo và sử dụng rộng rãi.

3. Cấu tạo

Thoạt nhìn thì hệ thống Ichimoku có vẻ phức tạp. Khi áp dụng hệ thống này vào biểu đồ, màn hình giao dịch xuất hiện nhiều chỉ báo với các màu sắc khác nhau khiến cho những người lần đầu tiếp xúc cảm thấy rối mắt và không hiểu chúng dùng để làm gì. Nhưng khi đã tìm hiểu thì hệ thống chỉ báo này cũng không quá khó và còn rất hữu ích trong việc tìm kiếm lợi nhuận.

Chỉ báo Ichimoku được cấu tạo từ ba lớp: Quá khứ, hiện tại và tương lai. Lớp quá khứ là đường Chikou Span (Đường trễ). Lớp hiện tại gồm đường Tenkan-sen (đường chuyển đổi) và đường Kijun-sen (đường tiêu chuẩn). Lớp tương lai chính là đám mây Kumo (là sự kết hợp giữa Senkou Span A và Senkou Span B).

Đặc biệt cần lưu ý, Ichimoku sử dụng theo thời gian ngày chứ không phải 1 giờ hay 4 giờ.

Và Ichimoku Cloud là sự kết hợp của 5 đường chỉ báo sau:

3.1. Tenkan-sen (Conversion Line – Đường chuyển đổi)

Tenkan-sen (Conversion Line - Đường chuyển đổi)

Công thức: (Giá cao nhất trong 9 ngày + Giá thấp nhất trong 9 ngày)/2

* Fact: Thực ra những công thức này chúng ta có thể không cần nhớ. Tuy nhiên sẽ tốt hơn nếu chúng ta nắm rõ, để có thể hiểu và vận dụng được nó một cách tốt nhất.

Khá giống đường trung bình động MA (link chuyên đề 3) , tuy nhiên đường MA sử dụng giá đóng cửa, còn Tenkan-sen sử dụng dữ liệu trung bình của giá cao nhất và giá thấp nhất

Đường Tenkan – Line là đường bám sát giá nhất trong số 5 đường trong hệ thống Ichimoku Cloud, đóng vai trò hỗ trợ, kháng cự (link chuyên đề 3) trong một thời gian khá ngắn. 

3.2. Đường Kijun-sen (Baseline – Đường tiêu chuẩn)

Đường Kijun-sen (Baseline - Đường tiêu chuẩn)

Công thức: (Giá cao nhất trong 26 ngày + Giá thấp nhất trong 26 ngày)/2

Đường Kijun – sen đóng vai trò hỗ trợ, kháng cự trong trung hạn vì thời gian là 26 ngày (trong khoảng gần 1 tháng)

* Tại sao lại là 9 ngày và 26 ngày. Ban đầu hệ thống Ichimoku chủ yếu được sử dụng trên đồ thị ngày. Ở Nhật, thời gian làm việc 1 tuần là từ thứ 2 đến thứ 7 (tương đương với 6 ngày). Cho nên chu kỳ 9 ngày tương đương một tuần rưỡi tuần làm việc và 26 ngày là tương đương với một tháng làm việc chuẩn.

* Note: Sự khác nhau giữa đường Kijun-sen, Tenkan-sen và đường trung bình động MA

3.3. Chikou Span (Đường trễ)

Chikou Span (Đường trễ)

Công thức:

Chikou Span = giá đóng cửa của hiện tại dịch chuyển về trước 26 phiên

Cho nên, Chikou cho phép các nhà giao dịch nhìn rõ mối quan hệ giữa giá của hiện tại với giá của quá khứ để từ đó có thể suy đoán được giá sẽ tiếp tục đi theo xu hướng như thế nào. Vì lẽ đó Chikou cũng được xem là đường thể hiện quán tính hay động lượng (momentum) của giá.

3.4. Senkou Span A (Đường dẫn)

Senkou Span A (Đường dẫn)

Tương tự Senkou Span A – thành phần tiếp theo tạo ra hệ thống Ichimoku cũng được sử dụng để đo lường động lượng và cung cấp các ý tưởng giao dịch dựa trên các mức hỗ trợ và kháng cự.

Công thức: Senkou Span A = (Kijun-Sen + Tenkan-Sen)/2 dời lên trước 26 phiên

Cho nên dù Senkou Span A sử dụng dữ liệu giá trong quá khứ nhưng nó lại mang tính dự đoán vì các giá trị của nó được vẽ trên biểu đồ, chúng sẽ hiển thị các mức hỗ trợ hoặc kháng cự, được kỳ vọng trong tương lai.

3.5. Senkou Span B (Đường dẫn) 

Các giá trị của Đường dẫn B được tính tương tự như Kijun-Sen và Tenkan-Sen nhưng với chu kỳ dài hơn là 52 phiên. Và đường Senkou Span B cũng được dời lên phía trước 26 phiên như Senkou Span A.

Công thức: 

Senkou Span B = (Giá cao nhất trong 52 chu kỳ gần đây + Giá thấp nhất trong 52 chu kỳ gần nhất)/2, dời lên trước 26 phiên

3.6. Mây Kumo 

Vùng ở giữa 2 đường Senkou Span A và Senkou Span B chính là vùng mây Kumo được sử dụng để dự báo giá trong tương lai

Mây Kumo

 

Bước 1: Truy cập https://www.tradingview.com/, mở chế độ “Chart”, và chọn mã chứng khoán mà bạn muốn theo dõi.

cài đặt Ichimoku trên TradingView

Bước 2: Chọn chỉ báo (Indicator) trên thanh công cụ và tìm “Ichimoku Cloud”

cài đặt Ichimoku trên TradingView

Bước 3: Dùng “Cài đặt” để điều chỉnh chỉ báo phù hợp với mục đích của bạn

cài đặt Ichimoku trên TradingView

5. Những ứng dụng chính của Ichimoku vào giao dịch
5.1. Xác định kháng cự, hỗ trợ

Ta có thể xem các đường Tenkan-sen, Kijun-sen, Senkou Span A, Senkou Span B là bốn đường kháng cự hoặc hỗ trợ động cho giá. Sức mạnh của các đường này theo thứ tự tăng dần là Tenkan-sen, Kijun-sen, đường Senkou Span gần đường giá hơn và đường Senkou Span còn lại. Đám mây Kumo cũng có thể được xem như vùng kháng cự hay hỗ trợ, đám mây càng dày đồng nghĩa với vùng đó càng mạnh và ngược lại đám mây càng mỏng thì vùng đó càng yếu, giá có thể dễ dàng xuyên qua.

5.2. Xác định sức mạnh xu hướng

Xu hướng tăng có thể tiếp diễn khi đường giá và đường Chikou Span nằm trên mây Kumo xanh. 

Xu hướng giảm có khả năng tiếp tục khi đường giá và đường Chikou Span nằm trên mây Kumo đỏ.
Các đường và mây có độ dốc càng lớn thể hiện sức mạnh của xu hướng hiện tại càng lớn và có thể sẽ tiếp diễn trong trương lai.

5.3. Xác định điểm vào lệnh
5.3.1. Giao cắt giữa Tenkan-sen và Kijun-sen

Khi đường Tenkan-sen cắt đường Kijun-sen theo hướng từ dưới lên cho tính hiệu mua. Điểm giao cắt xảy ra trên đám mây Kumo thể hiện tính hiệu mạnh, điểm giao cắt xảy ra trong mây thể hiện tính hiệu trung bình và điểm giao cắt xảy ra dưới mây thể hiện tính hiệu yếu.

Khi đường Tenkan-sen cắt đường Kijun-sen theo hướng từ trên xuống cho tính hiệu bán. Điểm giao cắt xảy ra dưới đám mây Kumo thể hiện tính hiệu mạnh, điểm giao cắt xảy ra trong mây thể hiện tính hiệu trung bình và điểm giao cắt xảy ra trên mây thể hiện tính hiệu yếu.

5.3.2. Mây đổi màu

Khi Senkou Span A cắt Senkou Span B từ dưới lên mây Kumo sẽ chuyển màu từ đỏ sang xanh. Lúc này ta có tính hiệu mua. Tính hiệu mua càng được củng cố khi giá nằm trên mây.

Khi Senkou Span A cắt Senkou Span B từ trên xuống mây Kumo sẽ chuyển màu từ xanh sang đỏ. Lúc này ta có tính hiệu bán. Tính hiệu bán được củng cố khi giá này nằm dưới mây.

5.3.3. Giá xuyên qua mây

Đám mây Kumo đóng vai trò vùng hỗ trợ hoặc kháng cự. Mây càng dày chứng tỏ vùng hỗ trợ hoặc kháng cự càng mạnh. Khi giá xuyên lên trên mây báo hiệu nhà đầu tư nên mua. Khi giá xuyên xuống dưới mây báo hiệu nhà đầu tư nên bán. Khi giá xuyên qua đám mây dày chứng tỏ phe đang chiếm ưu thế có sức mạnh rất lớn, tiếp tục hướng tới các mức thử thách tiếp theo.

6. Thực chiến

Disclaimer: Việc đưa ra những phân tích sau không nhằm mục đích nào khác ngoài giúp người đọc hình dung rõ hơn về cách ứng dụng hệ thống Ichimoku vào giao dịch thực tế. 

Thực chiến

Chúng ta sẽ áp dụng hệ thống Ichimoku vào mã MWG (Thế giới di động) và theo dõi trong giai đoạn từ cuối tháng 5 năm 2021 đến cuối tháng 1 năm 2022 để thấy được hiệu quả trên thực tế của hệ thống này.

(1) Xu hướng tăng của cổ phiếu đang diễn ra giá chạm 50 sau đó quay đầu đi vào mây chạm đường Senkou Span B và đi sideway trong biên độ hẹp khoảng 12 phiên. Đường Senkou Span B tại đây là một đoạn nằm ngang thể hiện mức trung bình này được duy trì trong một khoảng thời gian càng củng cố cho tính vững của hỗ trợ. 

(2) Sau khi đi sideway xong thì giá tiếp tục tăng đồng thời cũng xuất hiện tín hiệu đường Tenkan-sen cắt đường Kijun-sen theo hướng từ dưới lên, giá cũng đang di chuyển phía trên đám mây. Đường Chikou Span cắt đường giá từ dưới lên cho thấy sự cải thiện của giá hiện tại so với quá khứ (26 phiên trước). Tại đây ta có điểm mua tương đối thuận lợi.

(3) Sau một đợt tăng mạnh, biểu hiện bởi độ dốc lớn của đường giá thì giá bắt đầu tích lũy và đi sideway trong vùng 52-60. Giá hai lần chạm vùng 60 nhưng phe mua không đủ lực để đẩy thị trường lên tiếp nên quay lại test vùng hỗ trợ 52. Lần thứ ba giá chạm vùng 52 và cũng đồng thời là vùng đường Senkou Span B nằm ngang (vùng hỗ trợ tương đối mạnh), giá chạm Senkou Span B lập tức bật lên trở lại và tiếp diễn xu hướng tăng. Tại đây đường Senkou Span B giúp ta xác định được mức hỗ trợ rõ ràng, không hoảng loạn khi thấy giá giảm.

(4) Xuất hiện ba nến giảm liên tục đây là một tín hiệu xấu, thông báo rằng giá có khả năng bắt đầu xu hướng giảm. Nhưng khi giá chạm mây hình thành nến rút chân và đi ngang trong một khoảng thời gian. Đám mây Kumo tại đây là một đám mây dày đóng vai trò là vùng hỗ trợ cứng nên giá chưa thể  xuyên qua.
(5) Đám mây mỏng dần, giá đi xuyên qua xuống dưới mây. Đường Tenkan-sen cắt đường Kijun-sen theo hướng từ trên xuống, mây Kumo cũng chuyển từ màu xanh sang đỏ. Những tín hiệu này hợp lại cho ta thấy xu hướng tăng đã suy yếu. Tại vùng này chúng ta có thể cân nhắc việc chốt lời.

 

 

Như đã nói ở trên, “mây Ichimoku” là một công cụ mạnh, có thể sử dụng một cách riêng biệt mà không cần kết hợp với một phương pháp phân tích kỹ thuật nào khác. Nhưng có thể trong 1 vài trường hợp, chỉ báo này có thể không đúng. Phân tích kỹ thuật thực chất cũng hình thành từ việc các nhà chuyên gia phân tích thị trường một thời gian và có một vài hành động của con người cứ lặp đi lặp lại, nên người ta mới hình thành nên các lý thuyết đó. Tuy nhiên, tâm lý của con người trên thị trường cũng đôi lúc sẽ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, nên sẽ có những phản ứng khác nhau. Nên chúng ta cũng cần phải quan sát, phản ứng nhạy bén những tin tức liên quan đến vĩ mô xung quanh mình.

Bên cạnh đó, ta có thể thể điều chỉnh chu kỳ (ngày) để có những trải nghiệm, góc nhìn cá nhân. Tuy nhiên, đối với những người mới tham gia thị trường, khi chúng ta chưa có đủ những trải nghiệm thì khó lòng có thể so sánh hiệu quả của các chỉ báo sử dụng các mốc thời gian khác nhau. Cho nên điều cần làm vẫn là thực hành thuần thục với số chu kỳ mặc định trước.

Đôi lời với độc giả

Đây là chuyên đề cuối trong chuỗi phân tích kỹ thuật mà chúng mình viết nên để hỗ trợ các Newbie… Và mình muốn nhắn nhủ các bạn là không phải khi nào trong phân tích kỹ thuật chúng ta cũng sử dụng hết các phương pháp như nến nhật; kháng cự, hỗ trợ; …Đôi khi chỉ cần chúng ta dùng một trong số đó cũng có thể mang lại lợi ích cho chúng ta. Và ngoài những phương pháp kể trên bạn cũng có thể dùng thêm một số phương pháp khác nữa. Chỉ cần bạn sử dụng thành thạo công cụ mà bạn đang dùng, nó vẫn sẽ rất hiệu quả trên thị trường chứng khoán đấy. 

Ngoài các kiến thức về chứng khoán, bạn cũng hãy tự mình tìm hiểu về đầu tư và tài chính để chúng ta có một cái nhìn bao quát hơn nữa nhé! 

Cuối cùng mình xin chúc các bạn có một ngày thật tốt lành. Chúng mình hi vọng bạn sẽ thích các chuyên đề trong chuỗi phân tích kỹ thuật này. Và đừng quên hãy thực hành thật nhiều để xem phương pháp phân tích kỹ thuật nào mang lại hiệu quả lớn nhất cho bạn nhé! Practice makes perfect!!!

 

References: 

Sách “Hệ thống giao dịch Ichimoku Charts” Nicole Elliott (Biên dịch: Thái Phạm và Nguyễn Xuân Hiếu)

Penjelasan Mengenai Ichimoku Cloud Là Gì, Cách Sử Dụng Công Cụ Ichimoku Trong Giao Dịch.

[HD chi tiết] Cách sử dụng mây ichimoku trong chứng khoán

Ichimoku là gì? Cách giao dịch với Ichimoku nâng cao toàn tập

Ichimoku là gì? Cách sử dụng chỉ báo Ichimoku Kinko Hyo nâng cao

Phần 3: Chikou, Senkou Span A, Senkou Span B và mây Kumo

Người viết: 

Cao Yến Nhi (Leader)

Nguyễn Xuân Nam

 

Cổ tức
Khái niệm

Theo khoản 5 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác.

Lợi nhuận ròng của doanh nghiệp được hiểu là khoản tiền chênh lệch giữa tổng doanh thu bán được trừ đi tất cả các khoản chi phí, kể cả thuế. Như vậy, lợi nhuận ròng chính là tiền lãi của doanh nghiệp sau khi đã đóng thuế.

Việc chi trả cổ tức dù đơn giản là phương thức để phân phối lại lợi nhuận nhưng lại có ý nghĩa quan trọng đối với cổ đông.

Mỗi năm công ty sẽ hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo ra một số lợi nhuận sau thuế nhất định:

Một phần của số lợi nhuận đó sẽ được công ty tái đầu tư vào hoạt động kinh doanh, trích lập các quỹ dự phòng và được gọi là lợi nhuận được giữ lại.

Phần lợi nhuận còn lại sẽ được trả cho cổ đông và được gọi là cổ tức cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm cổ tức được chia hằng năm

Cổ tức (dividends) là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần

Cổ tức (dividends) là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần

Phân loại cổ tức
Cổ tức cổ phần ưu đãi

Đây là loại cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của m cổ tức cố định và cổ tức thưởng, cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty.

Cổ tức cổ phần phổ thông

Cổ tức trả cho cổ phần phổ thông được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty.

Ưu – Nhược điểm các hình thức chi trả cổ tức

Ưu điểm:

Cổ tức bằng tiền mặt:

Mang lại cảm giác chắc chắn cho cổ đông khi tìm kiếm lợi nhuận trong đầu tư cổ phiếu. Đối với những nhà đầu tư phòng thủ thì việc nhận tiền mặt từ công ty, mang tính đảm bảo hơn nhiều so với việc công ty giữ lại tiền và chạy theo những cơ hội “hào nhoáng” nhưng không chắc chắn.

Chứng minh là công ty có dòng tiền vững mạnh, an toàn khi đầu tư. Cần lưu ý xem xét thời gian chi trả trong thời gian dài, ổn định và có sự tăng trưởng cổ tức, cẩn thận với các công ty vay nợ để trả tiền cổ tức

Cổ tức bằng cổ phiếu:

Đối với cổ phiếu ít thanh khoản thì trả cổ tức bằng cổ phiếu sẽ tăng tính thanh khoản cho thị trường, làm giảm rủi ro thanh khoản, cũng như làm giảm thị giá giúp nhà đầu tư khác có thể dễ dàng mua cổ phiếu, do đó giá cổ phiếu sẽ tăng.

NĐT tránh bị đánh thuế 2 lần so với thuế đánh vào cổ tức bằng tiền mặt.

Công ty có thể giữ lại tiền để khắc phục khó khăn, hoặc mở rộng sản xuất, đầu tư vào những dự án mang lại lợi nhuận lâu dài cho cổ đông.

Nhược điểm:

Cổ tức bằng tiền mặt:

Chịu thuế 2 lần. Lần đầu là thuế thu nhập doanh nghiệp (hiện tại là 20-22%), tuy nhiên tùy ngành nghề đặc thù vùng miền mà có những ưu đãi về thuế riêng. Thuế thứ 2 là thuế thu nhập cá nhân cho phần cổ tức là 5%. Khi công ty trả cổ tức 2.000 đồng, bạn thực nhận chỉ là 1.900 đồng.

Đối với công ty đang khó khăn về tài chính, hay công ty đang giai đoạn phát triển nhanh, mở rộng thì trả cổ tức bằng tiền mặt làm giảm lượng tiền trong doanh nghiệp khiến doanh nghiệp thiếu hụt tiền để mở rộng sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp.

Cổ tức bằng cổ phiếu:

Đối với cổ phiếu ít thanh khoản thì trả cổ tức bằng cổ phiếu sẽ tăng tính thanh khoản cho thị trường, làm giảm rủi ro thanh khoản,cũng như làm giảm thị giá giúp nhà đầu tư khác có thể dễ dàng mua cổ phiếu, do đó giá cổ phiếu sẽ tăng.

NĐT tránh bị đánh thuế 2 lần so với thuế đánh vào cổ tức bằng tiền mặt.

Công ty có thể giữ lại tiền để khắc phục khó khăn, hoặc mở rộng sản xuất, đầu tư vào những dự án mang lại lợi nhuận lâu dài cho cổ đông
Các chỉ số về cổ tức

Tỷ lệ chi trả cổ tức

Tỷ lệ chi trả cổ tức là tỷ lệ phần trăm (%) giữa Cổ tức bằng tiền chia cho Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp (hay Cổ tức chi trả cho 1 cổ phiếu thường/EPS).

ty-le-chi-tra-co-tucTỷ lệ chi trả cổ tức sẽ ở mức hợp lý khi 2 vấn đề sau đây được đảm bảo:

Thứ nhất, công ty được bổ sung đủ nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh

Thứ hai, công ty đảm bảo vẫn giữ được tỷ suất sinh lợi trên vốn (ví dụ như tỷ lệ ROE)

Giả sử công ty A có vốn chủ sở hữu là 100 tỷ. Lợi nhuận năm 2020 là 20 tỷ, tương ứng tỷ lệ ROE 20%.

Công ty A dự kiến sẽ chi 10 tỷ để chi trả cổ tức bằng tiền mặt, tương đương tỷ lệ chi trả cổ tức là 50%.

Sau khi trích quỹ khen thưởng phúc lợi là 2 tỷ (tương đương, 10% lợi nhuận), số tiền còn lại bổ sung vào vốn chủ sở hữu là: 20 – 10 – 2 = 8 tỷ.

Vốn chủ sở hữu cho năm tiếp theo là 108 tỷ.

Tỷ suất cổ tức

Tỷ suất cổ tức (Dividend yield) là tỷ suất sinh lợi mà bạn có thể nhận được từ cổ tức nếu mua cổ phiếu ở mức giá hiện tại.

cong-thuc-ty-suat-co-tuc

 

 

 

 

 

Ví dụ:

Cổ phiếu VNM dự kiến trả cổ tức trong năm 2022 tổng cộng là 30%, tương ứng 3.000đ/cổ phiếu.

Giá đóng cửa của VNM tại ngày 11/12/2018 là 89.600đ/cổ phiếu.

Khi đó: Dividend yield = 3.000/89.600 = 3.34%

Dividend yield là một trong những chỉ số quan trọng thường được sử dụng khi định giá doanh nghiệp, bao gồm:

Tâm lý chung của nhà đầu tư là:

“Cổ phiếu trả cổ tức tiền mặt bao giờ cũng tốt hơn cổ phiếu không trả cổ tức tiền mặt”

Do đó, một cổ phiếu có tỷ lệ Dividend yield càng cao thì giá trị định giá cũng cao tương ứng. Chẳng hạn, một cổ phiếu có tỷ lệ Dividend yield cao hơn so với trung bình ngành thì cổ phiếu đó cũng được coi là “rẻ” tương đối.

Định giá cổ phiếu bằng chiết khấu dòng cổ tức

Đối với các nhà đầu tư giá trị, khi họ đầu tư mua cổ phiếu, họ sẽ kì vọng nhận được hai loại dòng tiền…

…Đó là, dòng tiền cổ tức nhận được trong thời gian nắm giữ và dòng tiền nhận được khi bán cổ phiếu.

Nhưng giá bán của cổ phiếu lại phụ thuộc vào dòng cổ tức mà cổ phiếu đó đem lại trong tương lai.

Vì vậy, bạn cần nắm vững cách chiết khấu dòng cổ tức về hiện tại như thế nào nhé.

Phương pháp chiết khấu có 2 mô hình chính gồm:

Mô hình cổ tức một giai đoạn

Công thức tính:

ct_1gdTrong đó:

Ví dụ: Bạn mua cổ phiếu A, với kì vọng sau 1 năm nhận cổ tức 2.000đ/cp, bán được với giá 50.000đ/p. Và tỷ suất lợi nhuận yêu cầu là 8%.

Giá trị hiện tại của cổ phiếu là:

Vo = (2.000 + 50.000) / (1 + 8%) ^ 1 = 48.150 đồng/cp

Mô hình cổ tức nhiều giai đoạn

Mô hình này là phần mở rộng cho mô hình nắm giữ năm một năm hay hai năm. Khác biệt chính là số kỳ nắm giữ cổ phiếu, với t = n năm.

Công thức tính:

ct-tong

 

 

 

 

 

Vo: giá trị của một cổ phiếu ngày hôm nay, tại t = 0

Pn: giá kỳ vọng cho mỗi cổ phiếu tại t = n

Dt: cổ tức kỳ vọng trên mỗi cổ phiếu cho năm n, giả định sẽ được trả vào cuối năm t = n

r: tỷ suất lợi nhuận yêu cầu trên cổ phiếu

Ví dụ: Nhà đầu tư A nắm giữ cổ phiếu X trong 4 năm, với cổ tức kì vọng:

Năm 1: 2.000đ/cp

Năm 2: 3.000đ/cp

Năm 3: 2.500đ/cp

Năm 4: 3.500đ/cp

Giá bán kỳ vọng năm thứ 4 là 100.000đ, tỷ suất lợi nhuận yêu cầu là 9%.

Áp dụng công thức trên thì:

8bd837_bd94dd18d33541fd821abce8983446eb_mv2

 

 

Giá cổ phiếu bị điều chỉnh giảm trong ngày GDKHQ

Bạn có thể áp dụng công thức tổng quát dưới đây của Go Value trong nhiều trường hợp:

Công thức tổng quát:

8bd837_9b3a5876f0e54ff8ae9f0cf0bc46c10b_mv2

 

 

 

 

Trong đó:

Ví dụ:

Giả sử cổ phiếu XYZ có giá đóng cửa ngày 7/1/2020 là 30.000 đ/cổ phiếu. Ngày 8/1/2020 là ngày GDKHQ của cổ phiếu XYZ với các quyền sau:

Khi đó, giá tham chiếu của cổ phiếu XYZ tại ngày 8/1/2020 sẽ được tính như sau:

8bd837_dde048917af14764a1feb34fb2b05ebc_mv2

 

 

 

Hay: giá điều chỉnh là 25.000 đ/cổ phiếu.

Quan điểm về giá trị
Khái niệm

Giá trị tiếng Anh là Value. Giá trị được hiểu đơn giản là tiền tệ, vật chất hoặc giá trị được đánh giá của một tài sản, hàng hóa hoặc dịch vụ. Giá trị sẽ gắn liền với vô số khái niệm khác, bao gồm lợi ích cổ đông, giá trị của một công ty, giá trị hợp lí, giá trị sổ sách, giá trị doanh nghiệp, giá trị tài sản ròng, giá trị thị trường, giá trị thị trường tư nhân, cổ phiếu giá trị, đầu tư giá trị, giá trị nội tại, giá trị gia tăng, giá trị gia tăng kinh tế, chuỗi giá trị, đề xuất giá trị và những thứ khác.

Lợi ích cổ đông:

Lợi ích cổ đông được hiểu cơ bản là lợi ích được phân phối cho chủ sở hữu cổ phần của một tập đoàn nhờ khả năng quản lí để tăng doanh số, thu nhập và dòng tiền tự do, dẫn đến việc tăng cổ tức và lãi về vốn (capital gain) cho các cổ đông (shareholder).

Nếu lợi ích này được tạo ra, đặc biệt là trong dài hạn, giá cổ phiếu tăng và công ty có thể trả cổ tức bằng tiền (Cash Dividend) nhiều hơn cho các cổ đông. Đặc biệt việc sáp nhập có xu hướng tạo ra sự gia tăng mạnh về lợi ích cổ đông.

Giá trị hợp lý:

Giá trị hợp lí trong kế toán được hiểu là giá có thể được giao dịch tự nguyện, giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong giao dịch ngang giá.

Giá cả được coi là hợp lý phải xoay quanh giá trị (giá trị kinh tế thực) và biểu hiện ra bên ngoài ở sự ngang giá.

Giá trị sổ sách của một cổ phần:

Giá trị sổ sách của một cổ phần theo nghĩa đen có nghĩa là giá trị của doanh nghiệp theo sổ sách kế toán được phản ánh qua báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Theo lí thuyết, giá trị sổ sách của một cổ phần thể hiện tổng số tiền thu được nếu thanh lý toàn bộ tài sản và sau khi trừ đi hết các khoản nợ phải trả của công ty. Đây sẽ là khoản tiền mà các chủ nợ và cổ đông công ty có thể nhận được trong trường hợp cong ty bị giải thể, phá sản…

Giá trị doanh nghiệp:

Có nhiều cách định nghĩa về giá trị doanh nghiệp như sau:

+ Từ góc độ thị trường, giá trị doanh nghiệp là thước đo tổng giá trị của một công ty, thường được sử dụng như một sự thay thế toàn diện hơn cho giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu (hay giá trị vốn hóa thị trường).

+ Theo quan niệm của học thuyết Mác, giá trị doanh nghiệp được hiểu là giá trị của toàn bộ các tài sản (hữu hình và vô hình) thuộc quyền sở hữu hiện tại của doanh nghiệp.

+ Còn theo quan niệm của các nhà kinh tế học theo trường phái lợi ích, giá trị doanh nghiệp được hiểu là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản lợi ích hay thu nhập mà doanh nghiệp có thể thu được trong tương lai.

Giá trị tài sản ròng:

Giá trị tài sản ròng sẽ được sử dụng để đại diện cho giá trị ròng của một thực thể và được tính bằng tổng giá trị của các tài sản trên trừ đi tổng giá trị các khoản nợ phải trả.

Giá trị thị trường:

Giá trị thị trường trong định giá được hiểu là số tiền trao đổi ước tính về một tài sản vào thời điểm thẩm định giá giữa một bên là người bán sẵn sàng bán với một bên là người mua sẵn sàng mua, sau một quá trình tiếp thị công khai mà tại đó các bên cùng hành động một cách khách quan, hiểu biết và không bị ép buộc.

Cổ phiếu giá trị:

Cổ phiếu giá trị được hiểu là một cổ phiếu giao dịch ở mức giá thấp hơn so với các yếu tố cơ bản của nó, chẳng hạn như cổ tức, thu nhập hoặc doanh thu, làm cho nó hấp dẫn các chủ thể là các nhà đầu tư giá trị.

Cũng có thể hiểu rằng, cổ phiếu giá trị là loại cổ phiếu của các công ty mà nhà đầu tư cho là bị đánh giá thấp và giao dịch ở mức giá thấp hơn giá trị thị trường của chúng.

Giá trị nội tại:

Giá trị nội tại là giá trị cảm nhận hoặc giá trị tính toán của một tài sản, một khoản đầu tư hoặc một công ty. Thuật ngữ này được sử dụng trong phân tích cơ bản để ước tính giá trị của một công ty và dòng tiền của công ty đó.

Giá trị gia tăng:

Giá trị gia tăng hay giá trị tăng thêm được hiểu cơ bản là toàn bộ kết quả lao động hữu ích do lao động trong doanh nghiệp mới sáng tạo ra và giá trị khấu hao tài sản cố định trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.

Giá trị gia tăng kinh tế:

Giá trị gia tăng kinh tế chính là một thước đo hiệu quả tài chính của công ty dựa trên tài sản còn lại được tính bằng cách trừ chi phí vốn khỏi lợi nhuận hoạt động, được điều chỉnh cho thuế dựa trên tiền mặt.

Bẫy giá trị trong đầu tư chứng khoán

Bẫy giá trị hay còn gọi là Value Trap, là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong chứng khoán khi một khoản đầu tư hay cổ phiếu được định giá rẻ vì các thông số định giá thấp. Chẳng hạn như chỉ số P/E (đánh giá mối quan hệ giữa giá cổ phiếu trên thị trường và lãi thu được trên mỗi cổ phiếu), P/CF (hệ số giá trên dòng tiền) hoặc hệ số giá trên giá trị sổ sách (P/B) thấp trong một thời gian nhất định.

Bẫy giá trị trong đầu tư cổ phiếu

Bẫy giá trị trong đầu tư cổ phiếu

Đối với nhà đầu tư, hệ số P/B và P/E là các công cụ giúp hỗ trợ tìm kiếm các cổ phiếu có giá thấp mà thị trường bỏ qua. Khi P/E và P/B thấp là dấu hiệu cho thấy cổ phiếu đó đang bị định giá thấp hơn so với giá trị. Đây sẽ là cơ sở để nhận định cổ phiếu có khả năng tăng giá, nhà đầu tư nên mua vào.

P/B thấp cho thấy hoạt động kinh doanh của công ty được cải thiện, lợi nhuận tăng trưởng, giá trị sổ sách của cổ phiếu cũng sẽ tăng lên. Trong trường hợp khác, khi cổ phiếu duy trì P/B <1, có thể các nhà đầu tư đang đánh giá giá trị thị trường của doanh nghiệp thấp hơn so với giá trị ghi sổ.

Có nhiều nguyên nhân để doanh nghiệp có P/E thấp ở một thời điểm. Một công ty có các hệ số giá dòng tiền, thu nhập hoặc giá trị sổ sách thấp trong khoảng thời gian dài có thể không sinh lợi trong tương lai, ngay cả khi mã cổ phiếu đó có giá có vẻ rất hấp dẫn. Cổ phiếu có thể trở thành bẫy giá trị cho các nhà đầu tư nếu công ty đó không có cải tiến nào trong lợi thế cạnh tranh, khả năng kiểm soát chi phí, khả năng đổi mới, quản lý điều hành.

 

“Việc sợ đưa ra các quyết định sai lầm là nguyên nhân khiến người ta đưa ra các quyết định sai lầm.”

– Sưu tầm –

Deposition-effect

1. Định nghĩa
Hiệu ứng ngược vị thế trong tiếng Anh là Disposition Effect. Hiệu ứng ngược vị thế đề cập đến cách các nhà đầu tư xử lý các khoản lãi và lỗ chưa thực hiện trên các danh mục tài sản tài chính nói chung hay danh mục mua bán chứng khoán nói riêng.

Cụ thể, nghiên cứu cho thấy các nhà đầu tư có xu hướng nhận ra lợi nhuận nhanh hơn thua lỗ. Thông thường, nhà đầu tư có xu hướng giữ chặt những kẻ thua cuộc (cổ phiếu thua lỗ) nhưng lại bán đi kẻ thắng cuộc (cổ phiếu lời). Hiểu theo cách đơn giản, hiệu ứng ngược vị thế là xu hướng bán cổ phiếu lời ít và nắm giữ cổ phiếu thua lỗ lớn.

2. Nguyên nhân

– Nguyên nhân cơ sở

Các nhà nghiên cứu đã lần ra nguyên nhân của hiệu ứng ngược vị thế thứ được gọi là “lý thuyết triển vọng”, được xác định và đặt tên lần đầu tiên bởi Daniel Kahneman và Amos Tversky vào năm 1979. Kahneman và Tversky tuyên bố rằng mất mát tạo ra nhiều cảm xúc ảnh hưởng đến cá nhân hơn ảnh hưởng của một lượng lợi tức tương đương. Và do đó, mọi người đưa ra quyết định của họ không dựa trên những tổn thất có thể nhận thấy được mà dựa trên những lợi ích nhận được. Điều này có nghĩa là, nếu được đưa ra với hai lựa chọn ngang nhau, một được mô tả về lợi ích có thể có và lựa chọn còn lại được mô tả về những tổn thất có thể xảy ra, họ sẽ chọn lựa chọn đầu tiên, mặc dù cả hai sẽ mang lại kết quả kinh tế cuối cùng như nhau. 

Hãy thử đọc và chọn 1 trong 2 lựa chọn của các ví dụ sau đây :

Ví dụ 1 

  1. Bạn có 50.0000VND và sẽ có 50% khả năng được 50.000VND hoặc 50% không mất gì.
  2. Bạn đang có 50.000VND và sẽ có 100% khả năng được 25.000VND

Ví dụ 2 

  1. Bạn có 100.0000VND và sẽ có 50% khả năng mất 50.000VND hoặc 50% không mất gì.
  2. Bạn có 100.0000VND và sẽ có 100% khả năng mất 50.000VND

Bạn sẽ dễ dàng thấy đa số người tham gia đã chọn “2” trong kịch bản đầu tiên và “1” trong kịch bản thứ hai, thậm chí kể cả bạn. Ở ví dụ 1, món lợi nhuận chắc chắn ở lựa chọn 2 sẽ là thứ khiến bạn bị hấp dẫn, mặc cho lựa chọn 1 có thể mang lại cho bạn lợi nhuận cao hơn. Ở ví dụ 2, khả năng  không mất gì ở lựa chọn 1 khi bạn bị đưa vào việc sẽ phải chọn mất mát điều gì đó sẽ làm cho tâm lý bạn cảm thấy thoải mái hơn.

Nghe thì có vẻ hợp lý, nhưng khoan đã!

Nếu để ý một chút bạn sẽ thấy lợi ích ròng ở lựa chọn 1 ví dụ 2 và lựa chọn 1 ở ví dụ 1 là tương đương nhau nhưng rõ ràng bạn lại chọn lựa chọn 2 ở ví dụ 1. Điều này cho thấy bộ não bạn có ấn tượng mạnh và sợ mất mát hơn so với việc đạt được một thứ gì đó.

– Nguyên nhân thực tế

Con người chúng ta thường có tâm sợ phải đánh mất những gì đã và đang có nên dễ hiểu khi nhà đầu tư thường có các hành động lo sợ sau khi có lợi nhuận ở một cổ phiếu đã mua vào. Vì tâm lý này, nhà đầu tư thường có xu hướng bán các cổ phiếu một cách nhanh chóng khi thị trường có bất kì dấu hiệu giảm điểm nào mà không cần quan tâm đó là sự điều chỉnh nhẹ nhàng về mặt kỹ thuật của thị trường hay mức lợi nhuận rất nhỏ đang có được vì họ đánh mất mức lợi nhuận đang có, dù cho nó có thể chỉ là 1%.  

Khi một nhà đầu tư chấp nhận cắt đi khoản lỗ của mình, điều đó  đồng nghĩa là họ đã sai trong quyết định mua vào cổ phiếu đó và vì con người ngại trong việc phải nhận sai và thừa nhận lỗi lầm của mình nên họ thường không dám mạnh tay để cắt bỏ những khoản đầu tư thua lỗ khi nó còn bé. 

Cũng vì hai nguyên nhân trên, nhà đầu tư sẽ có tâm thế giữ lại các khoản lỗ cho dù nó có lớn dần theo thời gian và mong đợi nó sẽ hồi phục, ít nhất để họ có thể bán ra với mức giá vốn. Điều này lại là nguyên khiến cho các khoản lỗ nhỏ biến thành các khoản lỗ lớn theo thời gian.

Suy cho cùng, nguyên nhân sâu xa nhất khiến nhà đầu tư thua lỗ khi đầu tư đó chính là việc họ đã không có cho mình những quy tắc mua-bán cụ thể, các trường hợp xử lí trước, sau khi mua hay khi đang nắm giữ cổ phiếu. Điều đó khiến họ sẽ hành động theo tâm lý và để hiệu ứng ngược thế diễn ra.

3. Hậu quả

Hậu quả lớn nhất và rõ nhất mà nhà đầu tư có thể dễ dàng thấy được đó là hiệu ứng ngược vị thế sẽ khiến nhà đầu tư mất dần số tiền của mình trên thị trường khi cứ để các khoản lỗ lớn dần lên trong khi các khoản lãi ngày càng thu hẹp theo thời gian. Chưa kể, việc mua bán không có quy tắc và dựa vào cảm xúc sẽ dễ tạo tiền lệ xấu trong tâm lý nhà đầu tư, khiến họ mất tự tin, mất tỉnh táo khi tìm kiếm các cơ hội đầu tư và đưa ra các quyết định trên thị trường và khiến cho khoản lỗ ngày càng trở nên trầm trọng hơn trong lần sau. 

4. Giải pháp 

Giải pháp đơn giản cho vấn đề này đó là việc nhà đầu tư cần xây dựng một hệ thống giao dịch hay nói đúng hơn là một bộ “quy tắc giao dich” cho bản thân mình. Những quy tắc này nên bao gồm bộ lọc cổ phiếu, các cách mua-bán hay cách xử lý khi giá cổ phiếu đi theo các trường hợp khác nhau… Việc này giúp giảm thiểu sự tham gia của các hiệu ứng tâm lý, đặc biệt là hiệu ứng ngược vị thế trong quá trình đưa ra quyết định trong đầu tư và giúp nhà đầu tư tránh các kết quả không như mong muốn. Bên cạnh đó, nhà đầu tư cũng cần liên tục trau dồi kiến thức và kinh nghiệm để giảm thiểu việc phải.

“Rất ít người có thể kiếm tiền bằng cách nghe theo lời khuyên của người khác. Hãy coi chừng thông tin nội bộ. Nếu kiếm tiền dễ dàng đến vậy, không ai dại gì dâng tiền vào túi bạn.” Đây là câu nói của nhà đầu tư huyền thoại trên phố Wall – Jesse Livermore. Đặc biệt hơn chính là cuộc đời ông gắn liền với thị trường chứng khoán. 

0_WJUfRq2MXg-CaDtY-1

Chân dung Jesse Livermore

Tiểu sử và quá khứ

Jesse Livermore sinh ra ở thị trấn South Acton vào năm 1877. Ông sớm bỏ học sớm từ khi 15 tuổi và chuyển đến Boston, sau đó trở thành nhân viên của công ty Chứng khoán Paine Webber. Trong quá trình làm việc, Livermore nhận thấy được sự biến động giá cả thay đổi theo chiều hướng có thể đoán được. Ông kết luận rằng có thể chiến thắng được thị trường và tin rằng mình có thể kiếm được một số tiền lớn.

Sau một thời gian làm việc tại Paine Webber, ông bị sa thải và chuyển đến tham gia tại các tổ chức cá cược khác tại vùng Trung Tây và vùng bờ biển phía Đông nước Mỹ.

Khi 20 tuổi, Jesse Livermore chuyển đến New York và khởi đầu sự nghiệp của ông mà cho đến bây giờ người ta vẫn nhìn nhận ông như một nhà kinh doanh vĩ đại nhất của mọi thời đại. Tại đỉnh cao của mình, ông sở hữu những khối tài sản khổng lồ ở nhiều quốc gia và ông cũng nổi tiếng vì những bữa tiệc lãng phí. Ông cũng duy trì một văn phòng bí mật ở đường số 5 nổi tiếng. Mục đích duy nhất của văn phòng này là nhằm thuận tiện phục vụ các hoạt động kinh doanh và đầu tư của Livermore.

Năm 1933, Livermore suy sụp nặng nề bởi sự suy thoái của nền kinh tế. Do đó, Livermore quyết định bán bí mật kinh doanh của mình thông qua hình thức một cuốn sách. “Kinh doanh Chứng khoán”. Tuy nhiên, cuốn sách thất bại trong việc chiếm được cảm tình và lý trí kinh doanh của công chúng.

Hai năm sau đó, Jesse Livermore sau khi uống hai ly rượu tại khách sạn Sherry-Netherland ở Manhattan, ông đã viết lá thư dài 8 trang cho người vợ thứ ba của mình và sau đó tự vẫn.

Thành tựu

Là một nhà đầu cơ Jesse cũng có cuộc đời như những người khác ông lớn lên ở vùng quê nghèo, phải thôi học từ sớm để phụ giúp gia đình. Nhưng điều này không khiến ông chấp nhận số phận, ở tuổi 20 ông đã thể hiện rõ thiên phú nắm bắt tâm lý thị trường khi kiếm được khối tài sản lớn từ sòng bạc. Sau đó ông đã quyết định gia nhập vào phố Wall và nhanh chóng trở thành một trong những “con cáo già” của thị trường với khối tài sản lên đến hàng triệu đô la. 

 Khác với những nhà đầu tư lớn khác, cuộc đời của Jesse Livermore không thể thành công đến cuối cùng. Cuộc đời ông rất nhiều thăng trầm khi đứng trên đỉnh vinh quang từ bàn tay trắng nhưng lại rơi vào đường cùng từ chính sai lầm đầu tư vào ngành bông. Dẫu vậy ông vẫn đạt được những thành tựu nhất định và để lại những bài học cho các nhà đầu tư cho tương lai:

Phương pháp đầu cơ của Livermore vô cùng mạo hiểm và cũng còn rất nhiều sai lầm nhưng cũng không thể phủ nhận hoàn toàn tài năng của ông.

036ffbd3387184feda06257ab4ff8802-1

Cuốn sách Chết vì chứng khoán: Jesse Livermore

Quy tắc đầu tư và buôn bán cổ phiếu của Jesse Livermore

Những nhân tố tác động đến thị trường chứng khoán không chỉ có doanh thu, lợi nhuận, tình hình thế giới, chính trị, kỹ thuật. Nhưng yếu tố tâm lý là yếu tố tác động lớn nhất đến thị trường.

Livermore luôn tin rằng sự sống và thị trường luôn có tính chu kỳ. Tính chu kỳ mang đến những thuận lợi cũng như bất lợi bởi những chu kỳ xảy ra ngoài dự đoán. Tính chu kỳ của thị trường chứng khoán chỉ chuyển sang xu hướng mới khi đà biến động trong xu hướng cũ yếu đi.

Livermore nhận ra rằng thị trường cổ phiếu không bao giờ rõ ràng. Do đó, Jesse Livermore đã xây dựng nguyên tắc đầu cơ của bản thân.

Các nhà đầu tư cần phải biết thời điểm tham gia thị trường và thời điểm kết thúc một giao dịch trên thị trường chứng khoán – khi nào nắm giữ và khi nào bán ra. Bởi vì thị trường có sự cám dỗ rất mạnh, khiến các nhà đầu tư vội vã tham gia vào các cuộc giao dịch, vậy nên các nhà đầu tư cần có sự kiên nhẫn, chờ đợi dấu hiệu của thị trường thuận lợi. Có những lúc các nhà đầu tư hoàn toàn đứng ngoài thị trường.

Các nhà đầu tư nên hành động theo dòng chảy của xu hướng và không tham gia vào thị trường khi bản thân cảm thấy có sự nghi ngờ. Không nên lãng phí thời gian vào cổ phiếu biến động dưới điểm dừng mà hãy bán nó ngay lập tức. Các nhà đầu tư không nên cố gắng dự đoán điểm và chiều hướng dịch chuyển của thị trường mà hãy chờ đợi để xác định hướng dịch chuyển của thị trường. 

Ngoài ra, các nhà đầu tư không nên dành thời gian để tính toán những biến động trong giá cả của những loại cổ phiếu đặc biệt. Chính sự nhẫn nại làm nên tiền bạc. Những diễn biến của thị trường chứng khoán luôn gây ảnh hưởng tới các sự kiện ở hiện tại còn bản thân thị trường hoạt động trong tương lai.

Có hai loại mốc then chốt:

Mốc then chốt là dấu diệu của thời điểm thích hợp tham gia thị trường hay là thoát khỏi thị trường. Một trong những bí quyết để lựa chọn thời điểm cho những lựa chọn của bản thân vì từng loại cổ phiếu không biến động đơn lẻ mà cùng nhau dịch chuyển. 

 Các nhà đầu tư khi tham gia giao dịch phải có mức giá mục tiêu rõ ràng để bán cổ phiếu nếu biến động ngược với phán đoán thì hãy dừng ngay lập tức. Một trong những nguyên tắc quan trọng trong quản lý tiền chính là không để mức thua lỗ quá 10% lượng vốn đầu tư. Ngoài ra, không nên đầu tư dự trữ và không nên mua dưới mức giá trung bình. 

Định kỳ chuyển phần lợi nhuận trên giấy tờ sang tiền thật. Hoặc đưa chúng vào ngân hàng hoặc trái phiếu hay hình thức đầu tư có thể sinh lãi hàng năm. Vì tiền mặt đóng vai trò rất quan trọng do đó, các nhà đầu tư nên có một số lượng tiền mặt dự trữ. Bên cạnh đó các nhà đầu tư nên thiết lập 20% vị thế theo kế hoạch ở lần mua đầu tiền, 20% ở lần thứ hai và 20% ở lần thứ ba. Sau đó chờ đợi để xác minh phán đoán của bản thân rồi tiến hành mua 20% còn lại.

Hơn bao giờ hết, nếu bất kỳ lúc nào cổ phiếu biến động không thuận lợi hoặc ngược với phán đoán của bản thân thì kết thúc toàn bộ vị thế của mình. Bán vị thế thua lỗ sẽ làm theo vị thế thắng cuộc miễn là tất cả các nhân tố đều thuận lợi.

Chế ngự cảm xúc là nhân tố quan trọng nhất trong quyết định đầu tư. Các nhà đầu tư thường bị tác động bởi sự thuyết phục của khác nhà đầu tư khác để bỏ đi quan điểm của bản thân dẫn đến sự do dự, không quyết đoán dẫn đến quyết định sai lầm trong giao dịch thị trường.

Đặc biệt, các nhà đầu tư cần trung thành với kế hoạch mà bản thân đã xây dựng  và không thay đổi chúng thường xuyên. Tìm ra phương pháp đầu cơ phù hợp với bản thân nhất và duy trì phương pháp đó. Và khi quyết định tham gia vào thị trường phải tìm cách kiếm lời dù giá tăng lên hay giảm xuống. Ngoài ra, các nhà đầu tư nên giữ kín những giao dịch của bản thân và những thành công hay thua lỗ.

Những tâm lý cần được các nhà đầu cơ nắm rõ và điều chỉnh tâm lý của bản thân để không bị chi phối trong quá trình tham gia thị trường.

Thị trường cần được nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng chứ không thể hành động tùy hứng, nhất thời. Song lòng tham và sự sợ hãi cũng là một trong những tâm lý mà hầu hết các nhà đầu tư phải học cách kiểm soát để có những quyết định đúng đắn.

CHƯƠNG I: FIBONACCI

Fibonacci là một chỉ báo giúp phân tích kỹ thuật trong đầu tư chứng khoán có nguồn gốc từ một lý thuyết toán học của Leonardo Fibonacci sống ở thế kỷ 12. Theo lý thuyết này, Fibonacci là một chuỗi các chữ số, bắt đầu là 0 và 1, các số phía sau là tổng 2 số đứng liền trước. Trông dãy số như thế này: 0, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144, 233, 377, 610…Từ dãy số này, người ta chia các số trong dãy số cho nhau và phát hiện ra các tỷ lệ: 161.8% (là tỷ lệ vàng), 23.6%, 28.2%, 61.8%. 

Tổng quan về Fibonacci

Fibonacci là một chỉ báo trong phân tích kỹ thuật có nguồn gốc từ một lý thuyết toán học của Leonardo Fibonacci sống ở thế kỷ 12. Theo lý thuyết này, Fibonacci là một chuỗi các chữ số, bắt đầu là 0 và 1, các số phía sau là tổng 2 số đứng liền trước.

Trông dãy số như thế này: 0, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144, 233, 377, 610…

Từ dãy số này, người ta chia các số trong dãy số cho nhau và phát hiện ra các tỷ lệ: 161.8% (là tỷ lệ vàng), 23.6%, 28.2%, 61.8%. Các tỷ lệ này một cách tình cờ rất phổ biến trong tự nhiên và người ta nghĩ rằng nó là các mức nổi bật trong giao dịch & phân tích kỹ thuật. Về cơ bản, có 3 mức quan trọng được sử dụng là 23.6%, 38.2%, 61.8%. Mặc dù mức 50% không phải là một tỷ lệ được tìm thấy trong chuỗi Fibonacci nhưng nó rất quan trọng và được sử dụng rộng rãi.

Các loại Fibonacci

Có 3 loại Fibonacci thường được dùng:

Fibonacci-retracement-Fibonacci-thoái-lui

Fibonacci thoái lui

Fibonacci-fans-Fibonacci-quạt

Fibonacci quạt

Fibonacci-arc-Fibonacci-vòng-cung

Fibonacci vòng cung

Trong đó, Fibonacci thoái lui là một trong những công cụ thông dụng nhất do dễ nhận biết ngưỡng hỗ trợ, kháng cự hay điểm ra vào lệnh. Ngoài ra còn một số loại Fibonacci nữa như fibonacci mở rộng, fibonacci vùng thời gian, fibonacci hình xoắn ốc…

Tại sao lại dùng công cụ này mà không phải công cụ khác?

Fibonacci là công cụ yêu thích của các nhà đầu tư không chỉ trong chứng khoán mà còn được áp dụng rất nhiều trong forex và tiền điện tử. Sau đây là một vài ý nghĩa quan trọng của công cụ này.

Tại các mức Fibonacci giá thường sẽ đảo chiều nên sẽ trở thành công cụ xác định ngưỡng hỗ trợ, kháng cự tiềm năng. Dựa vào các ngưỡng hỗ trợ, kháng cự nhà đầu tư có thể chọn điểm vào lệnh hợp lí, đem lại lợi nhuận tối ưu. 

Fibonacci Extension có thể đo được cường độ của một xu hướng từ đó đưa ra các ngưỡng mà tại đó giá có thể đảo chiều đi xuống. Đây là công cụ hữu hiệu để nhà đầu tư căn cứ chốt lời, tránh trường hợp đu đỉnh dẫn tới thua lỗ.

Cách vẽ Fibonacci 

Bước đầu tiên bạn cần làm trước khi vẽ fibonacci là xác định được đỉnh và đáy gần nhất, sau đó tiến hành vẽ fibonacci.

Nếu thấy thị trường có xu hướng tăng thì chúng ta sẽ kéo Fibonacci Retracement kéo từ đáy lên đỉnh.

Cách-vẽ-Fibonacci-tăng

Cách vẽ Fibonacci với xu hướng tăng

Còn nếu thấy thị trường có xu hướng giảm thì chúng ta sẽ kéo Fibonacci Retracement từ đỉnh xuống đáy.

Cách-vẽ-Fibonacci-giảm

Cách vẽ Fibonacci với xu hướng giảm

Ưu điểm và nhược điểm của Fibonacci

Không có bất kì phương pháp nào là hoàn hảo cả vậy nên đối với Fibonacci dù đã là một trong những phương pháp mà được rất nhiều nhà đầu tư tin dùng. Nhưng phương pháp này vẫn còn tồn tại một số những hạn chế như sau:  

Về ưu điểm:

Về nhược điểm:

 

 

CHƯƠNG II: SÓNG ELLIOTT 
Tổng quan về sóng Elliott

Sóng Elliott là đường thẳng biểu diễn xu hướng của thị trường. Được sử dụng rất nhiều trong các thị trường như forex, chứng khoán, cổ phiếu…

Sóng Elliott là công cụ kỹ thuật được nhà đầu tư sử dụng trong việc phân tích giá thị trường chứng khoán, hàng hóa, tiền điện tử….

Sóng Elliott phân tích các chuyển động của giá và các chuyển động này có xu hướng lặp đi lặp lại và hình thành các bước sóng. Từ dữ liệu lịch sử giao dịch trước đó, dựa vào nguyên tắc sóng Elliott, nhà đầu tư có thể dự đoán các biến động về giá tiếp theo dưới tác động của tâm lý thị trường.

Bản chất của sóng Elliott là một chuỗi hành vi đám đông được biểu diễn trên đường giá và có tính lặp lại.

Cấu trúc của sóng

Đối với một chu kỳ sóng Elliott được xem là hoàn chỉnh và cơ bản nhất khi thị trường tăng giá bao gồm 8 bước sóng và có cấu trúc 2 pha. 

Pha đầu tiên là sóng động lực (impulse wave) với 5 bước sóng được đánh dấu bằng số từ 1 đến 5, di chuyển theo xu hướng chính. Trong đó, sóng 1, 3 và 5 là các sóng tăng và sóng 2, 4 là những sóng giảm.

Pha thứ hai là sóng điều chỉnh (correction wave) có 3 bước sóng, di chuyển ngược xu hướng chính, được đánh dấu bằng các chữ cái a, b, c. Trong đó, sóng a và c là 2 sóng giảm và một sóng b tăng.

Cấu-trúc-của-sóng

Cấu trúc của sóng

Đặc điểm của từng con sóng

Để hiểu thêm về đặc điểm mỗi bước sóng, chúng ta hãy bắt đầu phân tích  các đặc điểm cơ bản của 8 con sóng này.

Bước sóng đầu tiên là sóng 1: Đây là dấu hiệu bắt đầu của chu kỳ tăng, do đó nó vẫn tồn tại nhiều tín hiệu nhiễu.

 Kế đến là sóng 2: đây là con sóng hồi phục nhưng không quá 100% con sóng số 1. Nhiều các nhà đầu tư cho rằng cho rằng thị trường giảm đã quay trở lại.

Tiếp nối sóng phục hồi chính là thời điểm mạnh mẽ nhất của chu kỳ tăng được biểu hiện qua con sóng 3 và đây cũng chính là nơi dễ dàng để chúng ta bắt đầu đếm sóng.

Theo sau những nhịp tăng vô cùng mạnh mẽ của sóng 3 thì sóng 4 lúc này sẽ điều chỉnh nhưng nó sẽ rất yếu do ảnh hưởng của sóng 3.

Không mạnh mẽ như sóng 3, nhưng sóng 5 có thể tìm thấy tín hiệu phân kỳ đảo chiều thị trường rất rõ ràng tại con sóng này. Điểm đảo chiều của thị trường sang mô hình 3 sóng hồi là sóng a.

 Sóng b được gọi là Suckers Rally. Đây là điểm chuyên bẫy nhiều người mua vì nhiều người cho rằng sóng a là sóng hồi của xu hướng tăng trước đó và sóng b có xu hướng sẽ tiếp tục đà tăng trước đó nên nhiều người mua vào giao dịch.  

Cuối cùng chính là sóng c và đây cũng chính là phiên bản của sóng số 3 nhưng trong mô hình 3 sóng điều chỉnh.

Nguyên tắc hoạt động của sóng

Mỗi một con sóng diễn ra đều tuân theo các mức tỷ lệ của Fibonacci retracement (thoái lui) và Fibonacci Expansion (bước tiến).

Lý thuyết sóng Elliott có một số quy tắc chính như sau:

Nguyên-tắc-hoạt-động-của-sóng

Nguyên tắc hoạt động của sóng

Lợi ích và hạn chế khi giao dịch

Dù sóng Elliott là một trong những phương pháp nền tảng và có độ chính xác cao trong phân tích kỹ thuật. Tuy nhiên ở bất kì một phương pháp nào cũng mang trong mình những lợi ích cũng như các hạn chế riêng và với vị trí là một nhà đầu tư chúng ta cần phải nhận thức được rõ ràng những mặt hạn chế cũng như lợi ích để có được các kết quả giao dịch tốt nhất khi tham gia giao dịch trên thị trường.

 Về lợi ích:

Về hạn chế:

Cách giao dịch theo sóng Elliott

Impulse Waves (Sóng đẩy)

Ở mô hình này, sóng 1, 3, 5 là sóng tăng. Ngược lại sóng 2 và 4 là sóng giảm.

Sóng 1:

Ban đầu giá có hướng đi lên. Một số các nhà đầu tư cho rằng đây là thời điểm thích hợp để mua và họ vào lệnh để giao dịch. Điều này khiến cho giá càng được đẩy lên cao.

Sóng 2:

Sóng 2 có xu hướng điều chỉnh sóng 1 nhưng sẽ không vượt qua điểm xuất phát đầu tiên của sóng 1. Tại thời điểm này, một số nhà đầu tư sẽ chốt lời vì cảm nhận giá đã tăng đủ cao. Vô hình chung điều đó khiến giá đi xuống đôi chút nhưng sẽ có một số nhà đầu tư nhận ra đây là thời điểm tốt để vào lệnh thêm.

Sóng 3:

Đây thường là sóng có xu hướng mạnh và dài nhất. Thời điểm đầu sóng 3, thị trường vẫn còn nhiều thông tin tiêu cực vì thế nhiều nhà đầu tư không kịp mua vào. Nhưng xu hướng giá đột ngột tăng trở lại đã thu hút các nhà đầu tư. Điều này khiến giá đột ngột tăng cao hơn. 

Sóng 4:

Với giá tăng nhanh ở sóng 3 khiến nhiều nhà giao dịch cảm thấy đây là thời điểm để chốt lời vì cảm thấy đã đủ lợi nhuận. Bên cạnh đó nhiều nhà đầu tư đã nhận biết được sự xuất hiện và tiềm năng của sóng 5 sắp tới nên tiếp tục chờ khi giá sẽ tăng cao hơn để tiếp tục mua vào.

Sóng 5:

Đây là thời điểm nhộn nhịp nhất thị trường vì những thông tin tích cực tràn lan. Khiến nhiều người lao vào thị trường một cách điên cuồng. Họ bắt đầu mở vị thế mua dẫn đến giá ở thời điểm này trở nên đắt nhất. Mặc khác, với những nhà đầu tư không chuyên nghiệp thường mua vào ở cuối sóng 5. Nhưng giá sẽ nhanh chóng chuyển hướng qua mô hình điều chỉnh (abc).

 

 

CHƯƠNG III: KẾT LUẬN

Bài viết trên là thông tin về hai phương pháp giao dịch cơ bản nhưng đã mang lại tỉ lệ hiệu quả khá cao cho nhiều nhà đầu tư trên thị trường. Để giúp tối ưu hóa lợi nhuận trong quá trình giao dịch chúng ta cần nghiên cứu kĩ về hai phương pháp này và vận dụng vào thực tế. Ngoài ra, các nhà đầu tư cần kết hợp với các chỉ báo khác để có thể gia tăng về tính chính xác trong việc xác định xu hướng cũng như hướng đi, các chuyển động của giá trong quá trình giao dịch. Đồng thời kết hợp với việc thường xuyên luyện tập để có thể thông thạo, hiểu rõ về các phương pháp và dần có thể tự tạo ra cho bản thân một phương pháp giao dịch phù hợp nhất với “khẩu vị” đầu tư của chính mình.

Và đó cũng là phần kết cho bài viết về “Fibonacci và sóng Elliott” của SCUE. Xin cảm ơn một lần nữa và hẹn gặp độc giả ở những bài viết tiếp theo trong chuỗi bài về PTKT của SCUE nhé!

 

Nguồn tham khảo:

Sách Hướng Dẫn Giao Dịch Theo Sóng Elliott (Visual Guide to Elliott Wave Trading) – Tác giả Wayne Gorman, Jeffrey Kennedy

Sách Phân Tích Kỹ Thuật Từ A Đến Z (Technical Analysis from A to Z) – Tác giả Steven B. Achelis

 

Người tổng hợp: Lưu Sở Ngân

 

 

Chính sách Tiền tệ là gì

Chính sách tiền tệ (tiếng Anh là Monetary Policy) là các biện pháp can thiệp của ngân hàng trung ương thông qua các công cụ lãi suất, dự trữ bắt buộc, thị trường mở… để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô như ổn định giá cả, tỷ lệ thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế.

Các loại chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ gồm 2 dạng: chính sách tiền tệ thắt chặt và chính sách tiền tệ mở rộng.

Chính sách tiền tệ mở rộng

Chúng ta hãy cùng xem tác động của chính sách tiền tệ mở rộng tới nền kinh tế đó là như thế nào?

Các tín hiệu của chính sách tiền tệ mở rộng như là giảm lãi suất hay giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng cung tiền, tăng tỷ lệ tăng trưởng tín dụng hoặc mua ở trên thị trường mở thì thông qua các kênh này, tiền sẽ chảy đến tiêu dùng sản xuất và thị trường chứng khoán, và kết quả đó là thị trường chứng khoán tăng.

Chính sách tiền tệ thắt chặt

Các tín hiệu như tăng lãi suất, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giảm cung tiền, giảm tỷ lệ tăng trưởng và bán ở trên thị trường mở thì thông qua cách này, tiền sẽ rút ra khỏi tiêu dùng, sản xuất và cả thị trường chứng khoán. Kết quả, hệ quả đó là thị trường chứng khoán giảm.

Sự tương quan giữa các yếu tố của chính sách tiền tệ đối với thị trường chứng khoán

Chúng ta hãy cùng xem qua một số ví dụ để chứng minh sự tương quan giữa các yếu tố của chính sách tiền tệ đối với thị trường chứng khoán. Đầu tiên, đó là dự trữ bắt buộc.

Dự trữ bắt buộc

Thực tế đối với thị trường chứng khoán Việt Nam thì mỗi khi ngân hàng nhà nước thực hiện tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì đều khiến cho thị trường chứng khoán giảm sâu và ngược lại khi ngân hàng nhà nước giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì đều hỗ trợ giúp cho thị trường chứng khoán tăng mạnh.

dự trữ bắt buộc

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tỷ lệ nghịch với xu hướng thị trường chứng khoán Việt Nam

Tăng trưởng tín dụng

Năm 2008, tín dụng tăng trưởng mức cao từ 30-37.7%/ năm khiến cho bùng nổ bong bóng tín dụng, tiềm ẩn nợ xấu và nguy cơ cho nền kinh tế. Chứng khoán cũng đạt đỉnh và giảm ngay sau đó. Có thể thấy rằng đỉnh tín dụng cũng khá gần với đỉnh chứng khoán. Việc tăng trưởng ở mức cao dẫn đến hệ quả là một phần tiền nhàn rỗi đổ vào thị trường chứng khoán khiến cho lượng cung mạnh lên đẩy thị trường chứng khoán đạt lên đỉnh. Đến năm 2012, tín dụng ở mức thấp do các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh nên họ không có nhu cầu mở rộng sản xuất, không có nhu cầu vay tín dụng, nền kinh tế tạo đáy và thị trường chứng khoán cũng tạo đáy và sau đó đi lên.

Từ năm 2013-nay, tăng trưởng tín dụng bắt đầu tăng trở lại, doanh nghiệp đã kinh doanh được có nhu cầu vay vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn đến một hệ quả là kinh tế tăng trưởng trở lại và thị trường chứng khoán cũng tăng.

Lãi suất

Hãy cùng xem xét yếu tố lãi suất tác động đến thị trường chứng khoán như thế nào. Năm 2005, lãi suất ở mặt bằng thấp từ 6-7% / năm . Nhà đầu tư nhận ra đây là chi phí vay khá là rẻ giúp cho hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và hệ quả là kinh tế phát triển. Một dòng tiền nhàn rỗi cũng được đổ vào thị trường chứng khoán khiến cho thị trường chứng khoán tăng bởi vì lúc đấy lãi suất tiết kiệm thấp và nhà đầu tư chọn kênh sinh lời tốt hơn ở trên thị trường chứng khoán. Đến năm 2008, lãi suất bắt đầu ở mặt bằng cao với mức là 14-25%/năm khiến cho doanh nghiệp phải giảm khi quy mô sản xuất kinh doanh. Kinh tế bắt đầu bị kìm hãm đà tăng trở lại và thị trường chứng khoán bắt đầu giảm. Dòng tiền trên thị trường chứng khoán rút ra sang kênh an toàn có lãi suất cao hơn về mặt danh nghĩa. Đến năm 2009, lãi suất thấp lại, thị trường chứng khoán có sự phục hồi.

Từ năm 2010-2011, lãi suất cao tầm 13%, trong khi đó lãi suất cho vay từ 15-25%, thì chứng khoán lại có hiện tượng giảm lại. Và từ năm 2014 – nay, lãi suất duy trì ở mức ổn định ở mức thấp và thị trường chứng khoán bắt đầu duy trì đà tăng và phục hồi trở lại.

Lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới hay tiêu biểu là FED cũng có tác động lớn đến thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua các hoạt động tăng/giảm lãi suất. Bằng việc tăng/giảm lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn, SBV sẽ có những hoạt động mua vào/bán ra ngoại tệ nhằm đảm bảo sự ổn định của tỷ giá từ đó tác động đến cung tiền trong nền kinh tế và tác động trực tiếp đến thị trường chứng khoán.

Tỷ giá

Ngoài ra, còn một số công cụ phụ thuộc chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước cũng có tác động mạnh mẽ đến thị trường chứng khoán đó chính là công cụ tỷ giá hối đoái. Về mặt bản chất, tỷ giá hối đoái đó là ngân hàng nhà nước sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối để  tiến hành mua bán trên thị trường ngoại hối nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia  đó là tác động trực tiếp đến tương quan giá trị của Việt Nam đồng và các ngoại tệ khác.

Nếu chúng ta nhìn trên bản đồ sẽ thấy một số tương quan giữa tỷ giá và thị trường chứng khoán Việt Nam. Khi tỷ giá tăng mạnh thì TTCK có xu hướng giảm và khi tỷ giá ổn định giữa đồng Việt Nam và các đồng ngoại tệ khác và đặc biệt là đô la Mỹ thì thị trường chứng khoán lại có xu hướng đi ngang và ổn định. Các công cụ điều tiết tỷ giá bao gồm tỷ giá tham chiếu bình quân, biên độ tỷ giá và thị trường ngoại hối. Ngoài ra việc tỷ giá thay đổi còn tác động trực tiếp đến hai nhóm ngành đó là các doanh nghiệp niêm yết có hoạt động xuất nhập khẩu hoặc vay nợ bằng ngoại tệ. Thứ hai là sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư hoặc là rút vốn trong ngắn hạn và trung hạn của các Quỹ đầu tư nước ngoài.

tỷ giá

Một số tương quan giữa tỷ giá và thị trường chứng khoán Việt Nam

FDI cũng là một yếu tố chúng ta cũng cần phải lưu ý khi mà tham gia đầu tư chứng khoán bởi vì nó có tác động tới thị trường. Khi FDI và FII càng cao, thì sẽ giúp cho hỗ trợ nền kinh tế và tăng nguồn ngoại tệ và giúp cho nhà nước ổn định tỷ giá được dễ dàng hơn và điều này giúp cho thị trường chứng khoán tăng và ngược lại.

Một ví dụ về việc vốn đầu tư nước ngoài  tác động thế nào đến thị trường chứng khoán: Khi dòng vốn FDI và FII đột ngột đổ mạnh vào thị trường Việt Nam như trong giai đoạn Covid 19 đã khiến lượng cung USD trên thị trường Việt Nam tăng lên một các đột ngột, điều này tác động lớn đến tỷ giá hối đoái buộc SBV phải có những hành động như tăng mua USD trên thị trường tự do, điều này khiến lượng cung tiền VND trong nền kinh tế gia tăng một cách đáng kể. Cũng là động lực thúc đẩy cho sự hưng thịnh của thị trường chứng khoán Việt Nam những năm 2020-2021.

 

Thiên nga đen được coi là một hiện tượng xảy ra trong nền kinh tế, có tác động tiêu cực đến nền kinh tế đặc biệt là thị trường tài chính. Và đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến tâm lý của nhà đầu tư.

82c07f0c96d3ffdf3080a6ec7bb87084

Thiên Nga Đen – Những sự kiện khó có thể dự đoán chính xác

Khái niệm

Thuật ngữ “thiên nga đen” được phổ biến bởi Nassim Nicholas Taleb, một giáo sư tài chính, tác giả và cựu thương nhân Phố Wall. Và hiện tượng “thiên nga đen” được xem như là một sự kiện xảy ra bất ngờ mà ít người có khả năng lường trước được. Đó là một sự kiện không thường xảy ra, nhưng một khi đã xảy ra thì lại mang hậu quả hết sức nghiêm trọng.

Ví dụ

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 đã gây ảnh hưởng đến toàn nhân loại bắt nguồn do sự sụp đổ của thị trường nhà đất tại Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Đây là một sự kiện mà ít ai có thể lường trước được nhưng mang lại hậu quả cực kỳ nghiêm trọng.

Hay “Bong bóng Dotcom” xảy ra vào năm 2001. Trước thời điểm đó, nền kinh tế Mỹ đang trải qua một thời kỳ ổn định và phát triển thế nên chẳng ai có thể ngờ rằng thời cuộc lại diễn biến như thế.

Wall Street

Sự kiện Thiên Nga Đen ảnh hưởng nghiêm trọng đến Phố Wall

Thiên nga đen – sự ảnh hưởng đến tâm lý của nhà đầu tư

Con người thường có xu hướng chủ quan, tự tin thái quá và thậm chí là thờ ơ với những gì đang diễn ra xung quanh mình. Nếu như một nền kinh tế kinh tế đang trải qua một thời kỳ phát triển ổn định thì con người thường quên mất khả năng nó có thể sụp đổ vào ngày mai – điều đó đã gây nên hiện tượng “thiên nga đen”. 

Đồng thời sau khi xảy ra hiện tượng “Thiên nga đen”, những người tham gia thị trường luôn cố gắng dùng hiện tượng “Thiên nga trắng” (những hiện tượng có thể dự đoán trước được) để giải thích nó. Mặc dù đôi khi những hiện tượng đó chẳng liên quan gì đến nhau. Và do đó, ở thời điểm này, nhà đầu tư thường sẽ có một số trường phái tâm lý như sau:

Hậu quả

Một khi con người không làm chủ được tâm lý, cảm xúc của mình trên thị trường chứng khoán thì sẽ mang lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng. Những tâm lý như thờ ơ với thời cuộc, luôn lạc quan quá mức sẽ dẫn đến những quyết định đầu tư sai lệch. Đối với những nhà đầu tư chỉ giao dịch với số vốn nhỏ thì có thể chỉ ảnh hưởng ít nhiều tới cuộc sống của họ. Thế nhưng chúng ta cũng đã không ít lần chứng kiến những nhà đầu tư thậm chí bán cả nhà cửa, đất đai, xe cộ,.. để tham gia thị trường chứng khoán với mong muốn kiếm được một mức lợi nhuận khủng. Thậm chí, có một số người lựa chọn cách làm lại cuộc sống ở một thế giới khác. 

Giải pháp

Tuy đây là một hiện tượng khó có thể dự đoán trước nhưng chúng ta vẫn có những biện pháp để giảm thiểu mức rủi ro. Đầu tiên, “không bỏ trứng vào một giỏ”. Đây có lẽ là nguyên tắc mà nhà đầu tư nào cũng nắm rõ. Chúng ta phải đa dạng hoá danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro hoặc có thể xem xét đến các loại tài sản khác nhau cổ phiếu, trái phiếu, hay một số loại tài sản an toàn hơn như vàng…

Thứ hai, luôn chuẩn bị, lường trước cho một sự kiện “Thiên nga đen” sẽ xảy ra. 

Thứ ba, phải có một thái độ tâm lý vững vàng trước những diễn biến của thị trường. Không nên nóng vội đưa ra những quyết định mà dẫn đến sai lầm trong đầu tư. 

Cuối cùng, đặt ra cho mình các mục tiêu về quản trị rủi ro trong bất kì hoàn cảnh nào. Đúng thật là trong dài hạn, giá cổ phiếu rồi sẽ tăng lên, nhưng chúng ta không biết chính xác được đó là thời điểm nào. Vì thế, chúng ta có thể chấp nhận thua lỗ, và tìm kiếm các cơ hội đầu tư khác trong thời gian đó.

 

Người viết: Cao Yến Nhi

Tham khảo: 

Hiện tượng “thiên nga đen” là gì?

Lý thuyết thiên nga đen – Wikipedia tiếng Việt

Dotcom và Bong bóng Dotcom (Dotcom Bubble) là gì?

Hiện tượng thiên nga đen (Black Swan) trong nền kinh tế là gì?

 
BERNARD BARUCH – Phù thủy đầu cơ cuối thế kỉ XIX   
Bernard Baruch – chuyên gia tài chính nước Mỹ

Bernard Baruch, tên đầy đủ là Bernard Mannes Baruch sinh năm 1870 tại South Carolina và mất năm 1965 tại New York.

        bernard-baruch-happy-live-530x385
Bernard Baruch

Năm 1889, ông tốt nghiệp đại học New York và bắt đầu tham gia giao dịch chứng khoán trên phố Wall vào năm 1891 khi còn đang làm những công việc lặt vặt cho công ty Houseman & Company – một công ty mối giới chứng khoán ở phố Wall.

Sau nhiều năm nghiên cứu và phân tích tất cả những thứ phức tạp trong giao dịch tài sản, Bernard Buruch bắt đầu phát triển chiến lược của riêng ông để kinh doanh thành công trong việc giao dịch các cổ phiếu. Bernard biến mọi suy đoán và âm mưu của ông “một mình”, điều này đã giúp ông trở thành triệu phú khi chỉ ở tuổi 30 và được biết đến trên khắp phố Wall với cái tên là “Con sói cô độc”.

“…Ngay cả nếu bạn đúng 3 hoặc 4 lần trong tổng số 10 lần giao dịch thì bạn đã kiếm được khoản tiền khá lớn nếu biết ngừng giao dịch khi thấy mình đang mắc sai lầm.”-Bernard Baruch-

Chiến lược đầu cơ với ba phi vụ lẫy lừng của Phù thủy phố Wall – Bernard Baruch:

   15-818x460_auto_x2

Phố Wall

Với tình cách muốn kiếm tiền thật nhanh và nhiều, năm 21 tuổi Bernard Baruch làm thuê cho một nhà môi giới chứng khoán và sau 10 năm, nhờ học được lỏm mánh khóe đầu cơ chứng khoán mà Baruch đã kiếm được 3 triệu USD. Và cũng từ đó, đã làm nên sự nghiệp đầu cơ lẫy lừng của Bernard Baruch trong giới chứng khoán.

Năm 1898, hải quân Mỹ đánh bại hải quân Tây Ban Nha ở Santiago de Cuba, Baruch dự đoán rằng “cổ phiếu của Mỹ sẽ tăng trong khi các cổ phiếu doanh nghiệp ở châu Âu sẽ giảm”. Ông và các đối tác vì không thể mua cổ phiếu ở thị trường Mỹ vì ngày hôm sau thị trường mới hoạt động nên họ đã dốc hết tiền mua tất cả cố phiếu Mỹ có thể mua được ở thị trường châu Âu và bán hết tất cả cổ phiếu châu Âu. Hôm sau, thị trường Mỹ và châu Âu đã diễn biến như Baruch dự đoán và giúp ông trở thành một trong những người giàu nhất nước Mỹ thời đó.

Đại khủng hoảng suy thoái kinh tế cuối thập kỷ 20 làm các đồng tiền mất giá và vàng trở nên có giá hơn, và điều này không nằm ngoài dự đoán của Baruch, ông tập trung đầu cơ vàng và lại thắng lớn.

Phi vụ cuối cùng và cũng là nguồn gốc cái tên “Lã Bất Vi phương Tây” của Bernard Baruch, đó là đầu cơ vào chính trị hay cụ thể là những người có quyền lực tại Mỹ. Năm 1912, ông đầu cơ vào Woodrow Wilson, khi đó là Giáo sư đại học, sau này là tổng thống Mỹ. Nhờ Wilson mà Baruch trở thành người tổ chức toàn bộ nền kinh tế Mỹ phục vụ cho Thế chiến thứ I. Điều này cũng tương tự với tổng thống Roosevelt.

Cả nền kinh tế Mỹ trong hai cuộc đại chiến thế giới được Baruch đảm trách và tổ chức ,vận hành đã không chỉ giúp ông có được vai vế trên chính trường mà còn kiếm về những nguồn lại khổng lồ.

Các phương pháp đầu tư của Bernard Baruch và ứng dụng.
Các phương pháp: “xác định điểm dừng trong đầu tư”
Bí quyết kiếm tiền độc đáo:

“Có hàng ngàn cách tiêu tiền, nhưng chỉ có 2 cách kiếm tiền. Một là làm việc vì tiền. Hai là để đồng tiền làm việc cho mình” -Bernard Baruch-

Trong đầu cơ chứng khoán, Baruch luôn tuân thủ một nguyên tắc mà trong hồi ký của mình, Baruch coi đó là một bí quyết đầu cơ thành công, đó là không bao giờ theo đuổi chiến lược bán đỉnh. “Bí quyết của tôi rất đơn giản, tôi luôn bán chúng đi sớm 10%”.

Trong đầu tư, Ông theo lối thiên về giá trị hơn là thời gian, mọi bước đi đảm bảo sự chắc chắn giúp hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất.

Bí quyết thành công quan trọng thứ hai của Baruch là tận dụng quan hệ chính trị trong đầu cơ. Baruch nhận ra rằng, đầu cơ vào chính trị có lợi nhất và an toàn nhất.

politics3_auto_x2

Quan hệ chính trị trong đầu cơ

Học cách để giải quyết cổ phiếu đầu tư bị mất điểm một cách nhanh chóng và sạch sẽ. Đừng hy vọng lúc nào bản thân cũng đầu tư đúng. Nếu đã có một sự lựa chọn sai lầm, việc cắt lỗ cần diễn ra càng nhanh càng tốt.

Khi có tín hiệu nên bán thì cần phải bán. Đừng nghĩ vì là nhà đầu tư dài hạn nên phải nắm giữ dài hạn.

Khi tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn trên thị trường, giá trị của kinh nghiệm đó sẽ chuyển thành kiến thức và kiến thức đó sẽ giúp ta xác định được nên làm gì, không nên làm gì trên thị trường.

Luôn luôn giữ một phần vốn của bạn dưới dạng tiền mặt, không bao giờ nên đầu tư tất cả tiền của bạn vào cổ phiếu.

Cần bộ nguyên tắc rõ ràng của bản thân khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu.

Những người giao dịch thành công có nguyên tắc rút khỏi thị trường khi họ giao dịch không phù hợp với xu hướng thị trường thay vì cố gắng tiếp tục giao dịch trên thị trường khi nguy hiểm.

Biết tận dụng các xu thế thị trường: Một đặc điểm khác của các nhà đầu tư thành công là họ luôn biết lấy các xu thế thị trường để làm lợi cho mình. Một nhà đầu tư bình thường sẽ hoảng loạn khi thị trường biến động, nhưng một nhà đầu tư chuyên nghiệp lại rất nóng lòng chờ đón điều đó. Đơn giản vì họ có thể kiếm tiền từ việc này.

Ứng dụng phương pháp để đầu tư hiệu quả

Các phương pháp đầu tư của Bernard Baruch được đút kết sau nhiều lần thất bại của ông trong quá khứ. Có lẽ đây là các phương pháp rất hữu ích đối với những nhà đầu tư mới và những nhà đầu tư theo thiên hướng an toàn.

mycktimesisrael-4192_auto_x2

Một góc thị trường chứng khoán Mỹ

Trước hết, các nhà đầu tư cần xác định rõ những gì bản thân đang có: kiến thức, tài chính, định hướng trong tương lai,…. Sau đó, tiến hành nghiên cứu thực tế thị trường(hiểu được thị trường đang hoạt động như thế nào, từ đó có cơ sở để mua bán hiệu quả). Tiếp theo, bắt tay vào thực hiện, ngoài việc dựa trên các kiến thức, kinh nghiệm,…đã có sẵn, nhà đầu tư luôn trong tâm thế sẵn sàng phản ứng nhanh với những thay đổi của thị trường, phải nhanh chóng đưa ra quyết định khi thị trường thay đổi. Và cuối cùng là rút ra những bài học kinh nghiệm cho lần đầu tư tiếp theo.

Tức nhiên trong quá trình đầu tư, không phải lúc nào cũng thuận lợi, nhà đầu tư nên tập cho mình thói quen nghỉ ngơi, quan tâm đến tâm lý của thị trường, đôi khi quá lạc quan lại nguy hiểm hơn bi quan. Baruch cho rằng khả năng tập trung cao cho công việc cũng là phẩm chất quan trọng của một nhà đầu cơ thành công. Khi thị trường không có cơ hội tốt, nên ngừng giao dịch, nghỉ ngơi để lấy lại sức. Nhà đầu cơ thành công là những người tìm kiếm những cơ hội lãi lớn, chứ không phải là những người cố gắng tìm kiếm những thành công nhỏ.

Tóm lại, không một nguyên tắc nào là cụ thể và chắc chắn hiệu quả trong khi thị trường luôn biến động. Việc nhà đầu tư có thể làm là trao dồi kiến thức, học các kỹ năng, va chạm tiếp xúc tăng kinh nghiệm, học hỏi các thành công và thất bại của các nhà đầu tư khác từ đó áp dụng vào đầu tư hiệu quả.

Tổng hợp: Nhựt Cường, Minh Quân, Thanh Thảo

Dòng tiền tự do là gì? Có bao nhiêu loại dòng tiền tự do nào được sử dụng trong mô hình tài chính? Làm thế nào để tiếp cận mô hình dòng tiền tự do (FCF)? Trong bài viết này, Scue sẽ giúp bạn giải đáp những thắc mắc trên nhé.

Dòng tiền tự do là gì?

Dòng tiền tự do là dòng tiền sẵn có dành cho công ty hoặc cổ đông của nó, sau khi đã tính đến chi tiêu vốn. 

Dòng tiền tự do được tính như sau:

Dòng tiền tự do = Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh – Chi tiêu vốn

1_BF17C8BF-F3AE-42BA-BD1D-855F93AC7040

Dòng tiền tự do – Free Cash Flow (FCF)

– Có hai cách để tiếp cận đó là:

+ Chiết khấu dòng tiền tự do của công ty (FCFF) với chi phí sự dụng vốn trung bình có trọng số để có được giá trị của công ty, và trừ ra giá trị của nợ hiện hữu để tìm ra giá trị của vốn cổ phần.

+ Chiết khấu dòng tiền tự do của cổng đông (FCFE) với chi phí sự dụng vốn cổ phần để có được giá trị thị trường của vốn cổ phần. 

– FCFF là dòng tiền sau thuế được tạo ra từ hoạt động của công ty, trừ đi đầu tư vốn và vốn luân chuyển ròng. Nó bao gồm dòng tiền thuộc về cả trài chủ lẫn cổ đông.

FCFF = EBIT (1 – TR) + Khấu hao – Chi tiêu vốn – Gia tăng trong NWC

Trong đó: 

EBIT = thu nhập trước lãi vay và thuế  

TR = thuế suất thu nhập công ty 

NWC = vốn luân chuyển ròng

FCFE là dòng tiền được suy ra từ dòng tiền tự do của công ty sau khi trừ đi chi phí lãi vay sau thuế, cũng như trừ đi dòng tiền từ phát hành hoặc mua lại nợ ròng

FCFE = NI- Chi tiêu vốn + Khấu hao – Gia tăng trong NWC + Gia tăng trong nợ thuần

Trong đó:

NI = Lợi nhuận sau thuế 

Gia tăng trong nợ thuần = Vay nợ mới – Trả nợ gốc cũ

Ngoài ra: 

FCFE = FCFF – Lãi vay x (1 – TR) – Gia Tăng trong nợ thuần

Mô hình định giá chiết khấu dòng tiền tự do của công ty 

Mô hình định giá dòng tiền tự do của công ty chiết khấu dòng tiền hàng năm cộng với giá trị ước tính của giá trị cuối cùng. Chúng ta sử dụng mô hình tăng trưởng không đổi để ước tính giá trị cuối cùng và chiết khấu với chi phí vốn bình quân gia quyền

V0 = t=1TFCFFt(1+WACC)t + VT(1+WACC)T

Trong đó:  

V0 = giá trị của công ty 

WACC = chi phí vốn bình quân gia quyền

VT = giá trị cuối cùng 

Các bước thực hiện định giá dựa trên mô hình định giá dòng tiền tự do của công ty

Bước 1: Dự phóng các khoản mục trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp

Bước 2: Xác định dòng tiền tự do của công ty của các năm từ số liệu có được của BCTC   

Ta có công thức xác định dòng tiền:

Dòng tiền tự do của công ty:

FCFF = EBIT (1 – TR) + Khấu hao – Chi tiêu vốn – Gia tăng trong NWC 

Bước 3: Xác định tỷ lệ chiết khấu 

Ở đây, tỷ lệ chiết khấu là chi phí vốn bình quân gia quyền

Ta có công thức xác định chi phí vốn bình quân gia quyền như sau:

WACC = EE+D  x kE + DE+D  x kD x (1 – TR)

Trong đó:

E = Giá trị vốn cổ phần 

D = Giá trị vốn vay 

kE = chi phí của vốn cổ phần 

kD = chi phí của vốn vay

TR = thuế suất thu nhập công ty 

kE = Rf + x ( Rm – Rf )

Trong đó: 

Rf = Lãi suất phi rủi ro 

Rm = Tỷ suất sinh lời kỳ vọng của thị trường 

= hệ số đo lường mức độ rủi ro của cổ phiếu 

kD = Lãi suất vay x (1 – TR)

Bước 4: Chiết khấu tất cả các dòng tiền FCFF trong tương lai về hiện tại theo tỷ lệ chiết khấu

Bước 5: Xác định giá trị cuối cùng (VT) và chiết khấu giá trị cuối cùng về hiện tại

Các mô hình dòng tiền tự do sử dụng giá trị cuối cùng để tránh phải cộng giá trị hiện tại của tổng vô hạn các dòng tiền. Giá trị cuối cùng này có thể đơn giản là giá trị hiện tại của chuỗi tiền tăng trường không đôi hoặc có thể dựa vào EBIT, giá trị sổ sách, thu nhập hoặc dòng tiền. Một quy tắc chung là, các ước lượng của giá trị nội tại phụ thuộc rất nhiều giá trị cuối cùng. 

Ta có công thức tính giá trị cuối cùng đối với dòng tiền tự do của công ty như sau: 

VT = FCFFT+1(WACC-g)

Trong đó: g = tỷ lệ tăng trưởng FCFF mãi mãi sau năm T 

Bước 6: Xác định giá trị của cổ phiếu 

Giá trị của công ty là tổng các dòng tiền chiết khấu của các năm về hiện tại cộng với giá trị cuối cùng 

Để xác định giá cổ phiếu của công ty, ta phải xác định giá trị của vốn cổ phần 

Ta có công thức:  Giá trị của vốn cổ phần = Giá trị công ty – Tổng nợ + Tiền mặt

Ta có công thức xác định như sau 

Giá trị của cổ phiếu = Giá trị vốn cổ phần / Tổng số cổ phiếu phát hành hiện tại

FA-TUẦN-4-DES

Mô hình định giá dòng tiền tự do của vốn cổ phần 

Đối với mô hình định giá chiết khấu dòng tiền tự do của vốn cổ phần, chúng ta có thể chiết khấu dòng tiền tự do của vốn cổ phần bằng cách sử dụng chi phí vốn cổ phần 

V0 = t=1TFCFEt(1+kE)t + VT(1+kE)T

Trong đó:  

V0 = giá trị vốn chủ sở hữu của công ty

kE = chi phí của vốn cổ phần 

VT = giá trị cuối cùng 

Các bước thực hiện mô hình định giá dòng tiền tự do của vốn cổ phần tương đối giống như các bước trên 

Trong đó:

Giá trị cuối cùng của mô hình FCFE được xác định 

VT = FCFET+1(kE-g). 

    

 

Here can be your custom HTML or Shortcode

This will close in 0 seconds