Giải mã dòng vốn ngoại

Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) chảy vào TTCK bất ngờ tăng đột biến vào cuối năm 2012, qua đó đưa tổng vốn FII tăng 25% so với năm 2011.

Bất ngờ ở phút… 89!

Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK), nếu như dòng vốn FII vào thuần tính đến hết tháng 10/2012 giảm 60% so với cùng kỳ năm 2011, thì trong tháng 11 và 12/2012 ghi nhận bước tăng trưởng đột biến, khi đạt gần 230 triệu USD. Diễn biến này làm cho dòng vốn FII cả năm 2012 tăng 25% so với năm 2011.

Tín hiệu tích cực của dòng vốn ngoại tiếp tục thể hiện trong các phiên giao dịch đầu năm 2013. Phiên giao dịch ngày 2/1, NĐT nước ngoài mua ròng hơn 89 tỷ đồng, phiên 3/1 mua ròng gần 130 tỷ đồng. Con số tuyệt đối tuy không lớn, nhưng trong bối cảnh kinh tế vĩ mô và TTCK đối mặt với nhiều khó khăn, thì đó là một tín hiệu tích cực.

Ghi nhận từ thị trường, cũng như nhận định từ cơ quan quản lý cho thấy, có khá nhiều yếu tố thu hút dòng vốn ngoại. Cả hai yếu tố NĐT ngoại vốn thường xuyên quan ngại hàng đầu là tỷ giá bất ổn và lạm phát cao, đều đã được hóa giải khi kết thúc năm 2012. Trong khi lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, thì dự trữ ngoại hối tăng mạnh. Theo TS. Alan T. Pham, Kinh tế trưởng VinaCapital, năm 2012 dự trữ ngoại hối của Việt Nam đạt khoảng 23 tỷ USD, cao gấp đôi so với năm 2011. Điều này cho phép tỷ giá VND/USD tiếp tục ổn định. Dự báo, VND mất giá so với USD khoảng 2% trong năm 2013 và xoay quanh mốc 21.500 đồng/USD.

Ở khía cạnh khác, khối ngoại nhìn thấy cơ hội tiềm ẩn. Những năm qua, điều không khó nhận ra là mỗi khi vĩ mô và TTCK Việt Nam đối mặt với những khó khăn gần như đỉnh điểm, thì các NĐT nước ngoài thường âm thầm tìm kiếm cơ hội giải ngân. Với cái nhìn dài hạn và có phần lạc quan hơn NĐT nội địa, trong nhiều trường hợp, khối ngoại đã chiến thắng thị trường. Hơn nữa, trong bối cảnh vĩ mô có những tín hiệu tích cực hơn, cho phép khối ngoại “xuống tiền” nhiều hơn.

Một yếu tố khác khiến khối ngoại tăng giải ngân là kỳ vọng việc phá băng thị trường bất động sản và xử lý nợ xấu của khối ngân hàng sẽ có kết quả tích cực, sau khi Chính phủ có hàng loạt động thái rốt ráo, quyết liệt. Trong đó, đáng chú ý hơn cả là Chính phủ vừa kết thúc thảo luận hai đề án quan trọng: Đề án xử lý nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng và Đề án thành lập công ty quản lý tài sản.

Đặc biệt, lộ trình tái cấu trúc TTCK đang bước vào giai đoạn trung tâm của việc thực hiện “Đề án tái cấu trúc TTCK và DN bảo hiểm”, khiến khối ngoại kỳ vọng sẽ có những bước cải cách mới về phương diện kỹ thuật, để tiếp sức cho sự phát triển của TTCK không chỉ trong năm 2013. Điều này cùng với diễn biến vĩ mô dần tích cực hơn, sẽ hỗ trợ cho sự khởi sắc của thị trường.

Lực hút từ sức bật tiềm ẩn

Chưa bao giờ tín hiệu về nỗ lực tìm kiếm những nhân tố mới nhằm tăng thu hút dòng vốn ngoại cho thị trường lại được Bộ Tài chính và UBCK phát đi nhiều như trong thời gian gần đây. Điều này thể hiện qua một loạt thông điệp và chính sách đã và sắp được ban hành. Sau hàng chục năm chờ đợi, NĐT ngoại đã được đơn giản hóa thủ tục mở tài khoản giao dịch khi tham gia TTCK Việt Nam, theo quy định tại Thông tư 213/2012. Còn Thông tư 212/2012 đã mở cửa cho NĐT ngoại lần đầu tiên được phép thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán 100% vốn ngoại tại TTCK Việt Nam.

Nằm trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp hút dòng vốn ngoại cho thị trường, một lãnh đạo UBCK cho hay, cơ quan quản lý đang tính giải pháp gỡ trần sở hữu 49% đối với bên nước ngoài khi tham gia TTCK Việt Nam, thông qua cơ chế tỷ lệ sở hữu cổ phần không có quyền biểu quyết, hoặc thí điểm phân loại nhóm DN mà phía Việt Nam không thực sự cần nắm cổ phần chi phối. Để thuận lợi cho việc triển khai thí điểm, ban đầu có thể áp dụng đối với các DN thuộc diện hẹp trong rổ chỉ số VN30, bởi đã có cơ sở dữ liệu khá đầy đủ…

Khi được hỏi những cải cách trên đã đủ góp phần gia tăng sức hấp dẫn cho TTCK Việt Nam trong cuộc cạnh thu hút vốn ngoại với các thị trường khu vực, lãnh đạo UBCK nhìn nhận, mỗi thị trường đều có lợi thế cạnh tranh riêng. Trong khi các thị trường phát triển như Singapore, Thái Lan, Malaysia… đã phát triển đến độ ổn định cao, nên khó có yếu tố đột biến, thì các thị trường Lào, Campuchia vẫn chưa làm nổi bật được các lợi thế cạnh tranh, bởi cấu trúc thị trường còn sơ khai, lượng hàng hóa quá ít và chậm phát triển. Đối với thị trường Myanmar, tuy có bước mở cửa mạnh mẽ, nhưng trong vài năm tới cũng chỉ có thể là đối thủ đáng gờm trong thu hút vốn FDI, chứ chưa thể tạo đột biến trong hút vốn FII.

Nhìn nhận như vậy để thấy, với hơn 700 DN niêm yết, cùng với nền tảng thị trường khá đồng bộ, nền kinh tế và TTCK đang có những bước cải cách mạnh mẽ…, sẽ hứa hẹn tạo ra sức bật cho TTCK Việt Nam. Điều này, dưới cái nhìn của NĐT ngoại, mang lại lợi thế cạnh tranh đáng kể cho TTCK Việt Nam.

Ông Trịnh Hoài Giang, Phó tổng giám đốc CTCK TP. HCM : “Vốn ngoại trở lại thông qua các quỹ đầu tư chỉ số”

Dòng vốn ngoại đã có tín hiệu quay trở lại TTCK Việt Nam trong quý IV/2012, đặc biệt là hai tháng cuối năm. Vốn ngoại chảy vào TTCK chủ yếu thông qua các quỹ đầu tư chỉ số. Tuy lượng vốn vào ròng tăng tích cực, nhưng mức độ giải ngân của khối ngoại vẫn thận trọng và mang tính thăm dò. Ghi nhận từ thị trường cho thấy, ở một khía cạnh tích cực khác, một lượng vốn ngoại vừa có tính chất vốn FDI, vừa là vốn FII, đang chảy khá đều vào các DN Việt Nam trên sàn. Phía nước ngoài đang tìm kiếm, tham gia sở hữu tới 30 – 40% cổ phần của các DN niêm yết như những NĐT tài chính hơn là trực tiếp tham gia điều hành DN.

Ngoài kỳ vọng TTCK sẽ có bước cải cách về mặt kỹ thuật để phát triển hiệu quả hơn, NĐT nhìn thấy những nền tảng cho sự ổn định tỷ giá và lạm phát. Tuy nhiên, một khi việc xử lý nợ xấu của khối ngân hàng, cũng như phá băng tín dụng và thị trường bất động sản chậm phát đi những tín hiệu tích cực rõ nét, thì nỗ lực thu hút thêm, cũng như giữ dòng vốn ngoại ở lại lâu hơn với thị trường sẽ gặp thách thức.

Ông Nguyễn Trung Hà, Chủ tịch CTCK Thiên Việt (TVS) : “Định giá DN Việt Nam hiện khá rẻ”

Định giá DN Việt Nam hiện tương đối rẻ trong bối cảnh vĩ mô và TTCK đang trải qua những khó khăn tạm thời. Do năng lực vốn của NĐT trong nước chưa đủ lớn, nên khối ngoại nhìn thấy cơ hội đầu tư hấp dẫn khi Việt Nam đang thúc đẩy chương trình hợp tác công tư (PPP) trong các lĩnh vực: điện, nước, bệnh viện, cảng biển…

Ngành điện, nước đang dần vận hành theo cơ chế thị trường. Giá điện, nước còn thấp hơn so với các nước trong khu vực, trong khi cung chưa đáp ứng đủ cầu. Do đó, dòng vốn FII, nhất là từ châu Á sẽ tiếp tục đổ mạnh vào các ngành này ở Việt Nam. Ngành hàng tiêu dùng, y tế, giáo dục có tiềm năng tăng trưởng lớn, tỷ suất lợi nhuận (ROE) ở các ngành này trên 25%. Bán lẻ cũng là ngành còn nhiều tiềm năng.

Trong khi đó, thị trường nước ngoài đã phát triển bão hòa, nên các DN ngoại muốn thúc đẩy tăng trưởng qua phương thức đầu tư M&A sang các nước đang phát triển như Việt Nam. Ngoài ra, huy động vốn ở thị trường nước ngoài khá rẻ, thúc đẩy NĐT ngoại đầu tư vào những nước có tỷ suất lợi nhuận cao như Việt Nam. Mặt khác, Việt Nam đang là nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh thứ 3 trong khu vực châu Á, nhóm dân số dưới 40 tuổi hiện chiếm gần 2/3, có sức mua rất lớn. Tốc độ đô thị hóa cao, khoảng 3,4%/năm, dẫn đến nhu cầu về đầu tư và phát triển hạ tầng tăng. Những yếu tố này tạo ra sức hút đáng kể đối với dòng vốn ngoại.

Hữu Đạo

Nguồn tin: Đầu tư Chứng khoán điện tử

 

Related Articles

BINH LUAN

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *